Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1147/2024/HS-PT

Ngày: 10-12 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Đức Toàn

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 806/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Minh N do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Minh N, (tên gọi khác: Hoàng Song L), sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Nông; nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P, sinh năm 1972 và bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 24-01-2024. Đến ngày 02-02-2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú được tại ngoại; đang tại ngoại - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: luật sư Nguyễn Trương Hoài N1, Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

(Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.)

Người kháng cáo:

Bị cáo Phạm Minh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 04-2023, Phạm Minh N đến địa bàn huyện Đ hoạt động cho vay tiền trả góp hàng ngày. N sử dụng số điện thoại 0899.382.xxx đăng ký tài khoản Zalo tên “Hoàng Song L” để liên lạc với người vay. Khi người dân có nhu cầu vay tiền liên hệ thì N sẽ gặp trực tiếp, kiểm tra hoàn cảnh kinh tế nếu đảm bảo thì N sẽ cho vay, số tiền cho vay dao động từ 05 triệu đồng đến 15 triệu đồng/1 lần vay. Khi vay tiền người vay phải để lại giấy tờ tùy thân như: Căn cước công dân, giấy chứng nhận đăng ký xe và chịu chi phí làm thủ tục từ 05% - 10%/ tổng số tiền vay. Người vay phải chịu lãi suất từ 9.100 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày đến 13.300 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (tương đương từ 331,8%/năm đến 486,7%/năm). N sử dụng tài khoản ngân hàng M2, số tài khoản 38668686789 để người vay chuyển trả tiền góp hàng ngày. N bỏ ra số tiền gốc 67.200.000 đồng để phục vụ hoạt động cho vay. Sau khi thu tiền gốc, tiền lãi của người vay trước thì tiếp tục cho người sau vay. Với thủ đoạn nêu trên, Phạm Minh N đã cho 13 cá nhân vay tiền, cụ thể như sau:

  1. Chị Bùi Thị Tuyết N2 vay 09 lần, với tổng số tiền 75.000.000 đồng, lãi suất từ 01% - 1.24%/ngày (tương đương 365% - 451,9%/năm). Trong đó, chị N2 đã trả đủ tiền gốc và lãi 08 lần vay, còn 01 lần vay chưa hết thời hạn vay thì N bị phát hiện; chị N2 còn nợ 2.857.143 đồng tiền gốc và 124.000 đồng tiền lãi tính đến ngày 24-01-2024. Tổng cộng chị N2 đã trả cho N 18.157.143 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 967.044 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 17.190.099 đồng) và 2.800.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 19.990.099 đồng.
  2. Chị Đinh Thị Quỳnh A vay 11 lần, với tổng số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất 1.24%/ngày (tương đương 451,9%/năm). Trong đó, chị Quỳnh A đã trả đủ tiền gốc và lãi 10 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay nhưng chị Quỳnh A chưa trả đủ; chị Quỳnh A còn nợ 4.047.619 đồng tiền gốc và 1.054.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng chị Quỳnh A đã trả cho N 14.547.619 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 690.354 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 13.857.265 đồng) và 3.600.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 17.457.265 đồng.
  3. Chị Trần Thị Như P1 vay 05 lần, với tổng số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 01%/ngày (tương đương 365%/năm); Trong đó, chị P1 đã trả đủ tiền gốc và lãi 04 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay nhưng chị P1 chưa trả đủ, còn nợ 2.000.000 đồng tiền gốc và 500.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng chị P1 đã trả cho N 12.000.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 684.875 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 11.315.125 đồng) và 2.500.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 13.815.125 đồng.
  4. Chị Trương Thiện T1 vay 07 lần, với tổng số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất từ 1,24% - 1,33%/ngày (tương đương 451,9% - 486,7%/năm). Trong đó, chị T1 đã trả đủ tiền gốc và lãi 06 lần vay, còn 01 lần vay chưa hết thời hạn vay thì N bị phát hiện; chị T1 còn nợ 13.000.000 đồng tiền gốc và 798.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng chị T1 đã trả cho N 22.500.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 1.035.531 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 21.464.469 đồng) và 5.100.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 26.564.469 đồng.
  5. Chị Tạ Thị Vân A1 vay 03 lần, với tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 0,91%/ngày (tương đương 331,8%/năm). Trong đó, chị Vân A1 đã trả đủ tiền gốc và lãi 02 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay nhưng chị Vân A1 chưa trả đủ; chị Vân A1 còn nợ 909.091 đồng tiền gốc và 91.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng chị Vân A1 đã trả cho N 1.409.091 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 90.404 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 1.318.687 đồng) và 900.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 2.218.687 đồng.
  6. Chị Nguyễn Thị Khánh M vay 10 lần, với tổng số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm). Trong đó, chị M đã trả đủ tiền gốc và lãi 09 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay nhưng chị M chưa trả đủ; chị M còn nợ 2.619.048 đồng tiền gốc và 682.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng chị M đã trả cho N 14.919.048 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 690.354 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 14.228.694 đồng) và 3.600.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 17.828.694 đồng.
  7. Chị Lục Thị Thu T2 vay 08 lần, với tổng số tiền 65.000.000 đồng, lãi suất từ 01% - 1,24%/ngày (tương đương 365% - 451,9%/năm). Trong đó, chị T2 đã trả đủ tiền gốc và lãi 07 lần vay, còn 01 lần vay chưa hết thời hạn vay thì N bị phát hiện; chị T2 còn nợ 4.523.810 đồng tiền gốc. Tổng cộng chị T2 đã trả cho N 15.223.810 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 805.413 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 14.418.397 đồng) và 3.100.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 17.518.397 đồng.
  8. Anh Phạm Đức L1 vay 08 lần, với tổng số tiền 75.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm). Trong đó, anh L1 đã trả đủ tiền gốc và lãi 07 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay nhưng anh L1 chưa trả đủ; anh L1 còn nợ 3.095.238 đồng tiền gốc và 806.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng anh L1 đã trả cho N 18.695.238 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 862.942 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 17.832.296 đồng) và 3.300.000 đồng phí hợp đồng vay, N đã thu lợi bất chính số tiền là 21.132.296 đồng.
  9. Anh Lê H vay 03 lần, với tổng số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm). Anh H đã trả đủ tiền gốc và lãi 03 lần vay. Tổng cộng anh H đã trả cho N là 5.200.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 230.118 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 4.969.882 đồng) và 900.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 5.869.882 đồng.
  10. Chị Lê Thị Minh T3 vay 04 lần, với tổng số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm). Trong đó, chị T3 đã trả đủ tiền gốc và lãi 03 lần vay, còn 01 lần vay đã hết thời hạn vay mà chị T3 chưa trả đủ; chị T3 còn nợ 2.380.952 đồng tiền gốc và 620.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Chị T3 đã trả cho N 9.780.952 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 460.236 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 9.320.716 đồng) và 1.200.000 đồng phí hợp đồng vay, N đã thu lợi bất chính số tiền là 10.520.716 đồng.
  11. Chị Nguyễn Thị Xuân T4 vay 06 lần, với tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 01%/ngày (tương đương 365%/năm). Trong đó, chị T4 đã trả đủ tiền gốc và lãi 04 lần vay, còn 02 lần vay đã hết thời hạn vay mà chị T4 chưa trả đủ; chị T4 còn nợ 1.800.000 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi tính đến ngày hết thời hạn vay. Tổng cộng chị T4 đã trả cho N là 7.050.000 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 410.925 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 6.639.075 đồng) và 1.650.000 đồng phí hợp đồng vay. N đã thu lợi bất chính số tiền là 8.289.075 đồng.
  12. Chị Nông Thị L2 vay 01 lần, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm), chưa hết thời hạn vay thì N bị phát hiện. Chị L2 còn nợ 4.523.810 đồng tiền gốc. Chị L2 đã trả tiền lãi cho N là 123.810 đồng (số tiền thu lãi hợp pháp là 5.479 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 118.331 đồng), phí hợp đồng vay là 300.000 đồng. N đã thu lợi bất chính số tiền là 477.496 đồng.
  13. Anh Nguyễn Đức M1 vay 01 lần, với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 1,24%/ngày (tương đương 451,9%/năm), chưa hết thời hạn vay thì N bị phát hiện. Anh M1 còn nợ 4.285.714 đồng tiền gốc. Anh M1 đã trả tiền lãi cho N là 185.714 đồng (số tiền thu lãi hợp pháp là 8.218 đồng; tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 177.496 đồng), phí hợp đồng vay là 300.000 đồng. N đã thu lợi bất chính số tiền là 477.496 đồng.

Như vậy Phạm Minh N đã 76 lần cho 13 cá nhân vay, tổng số tiền giao dịch là 600.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 331,8% năm đến 486,7%/năm, thu phí trái pháp luật là 29.250.000 đồng. Tổng cộng tiền lãi mà người vay phải trả cho N tính đến thời điểm bị phát hiện là 144.867.425 đồng; trong đó: lãi pháp luật cho phép là 7.159.272 đồng, tiền lãi từ 20%/năm trở lên là 137.708.153 đồng. N đã thu được 139.792.424 đồng tiền lãi (số tiền thu lãi hợp pháp là 6.933.675 đồng, tiền thu lãi từ 20%/năm trở lên là 132.858. 749 đồng). Tổng số tiền N đã thu lợi bất chính là 162.108.749 đồng.

Cáo trạng số 25/CT-VKSĐN-P1 ngày 16-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Phạm Minh N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông, quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Minh N 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24-01-2024 đến ngày 02-02-2024. Phạt bổ sung bị cáo 60.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 31 tháng 7 năm 2024, bị cáo Phạm Minh N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
  • Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Tòa án xem xét bị cáo có thêm tình tiết mới về việc có xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo cho vay lãi suất thỏa thuận giữa hai bên, bị cáo không ép buộc người vay. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 04-2023 đến ngày 24-01-2024, Phạm Minh N đã dùng 67.200.000 đồng cho 13 cá nhân trên địa bàn huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vay 76 lần với lãi suất mỗi lần vay từ 331,8%/năm đến 486,7%/năm, tổng số tiền giao dịch 600.000.000 đồng, vượt quá 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tổng số tiền lãi 13 người vay phải trả cho N là 144.867.425 đồng. Trong đó, lãi pháp luật cho phép là 7.159.272 đồng, tiền lãi trên 20%/năm là 137.858.749 đồng. N đã thu được 139.792.424 đồng tiền lãi (trong đó số tiền thu lãi hợp pháp là 6.933.675 đồng, đã thu lợi bất chính được số tiền là 132.858.749 đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Minh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.

Tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra liên tục trong thời gian khoảng 10 tháng và đối với nhiều người, thu lợi bất chính 132.858.749 đồng; ảnh hưởng đến trật tự quản lý tiền tệ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng của Nhà nước, xâm phạm đến lợi ích cá nhân được pháp luật bảo vệ, việc cho vay nặng lãi còn là nguyên nhân gây mất trật tự trị an tại địa phương và phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội, dư luận xã hội lên án, pháp luật Nhà nước nghiêm cấm và phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung; đặc biệt tội phạm này đang có xu hướng diễn ra nhiều nơi trên cả nước; cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt 09 tháng tù có thời hạn là có căn cứ.

Tại phiên tòa bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ xác nhận hoàn cảnh khó khăn do công an xã xác nhận, không phải ủy ban nhân dân xã nơi cư trú và do mẹ bị cáo đứng tên xin xác nhận, nên không được xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, không có căn cứ chấp nhận giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không chấp nhận kháng cáo cho hưởng án treo như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

[3] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Các quyết định khác của Bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh N. Giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 34/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh N 09 tháng tù về tội “Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024.

Phạt bổ sung bị cáo 60.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

  1. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 10/12/2024.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đăk Nông;
  • - VKSNS tỉnh Đăk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đăk Nông;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, VP, 21bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1147/2024/HS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 1147/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger