Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 780/2024/DS-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên

Bà Châu Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 731/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; địa chỉ trụ sở: Phường S, Quận B, Thành phố H; địa chỉ liên lạc: Phường S1, Quận B, Thành phố H;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Đức Thắng, sinh năm 1984, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, theo Văn bản ủy quyền số 2882/2023/UQ-TGĐ ngày 30/8/2023 và số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022; địa chỉ liên lạc: Phường S1, Quận B, Thành phố H, (có đơn xin vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Võ Hoàng D, sinh năm 1986; địa chỉ: Phường A, quận V, Thành phố H, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2023 và đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung đề ngày 29/01/2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/3/2018, ông Võ Hoàng D ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Nguyên đơn đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng chung là 25.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau, theo Điều 22 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Bị đơn phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Võ Hoàng D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 50.096.500 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 26.500.000 đồng; số tiền thanh toán căn cứ theo quy định tại Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở, bị đơn vẫn không thực hiện thanh toán các khoản nợ còn lại cho nguyên đơn. Do đó, ngày 01/11/2018 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của bị đơn và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, dư nợ tại thời điểm này là 28.726.993 đồng, áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Theo đối chiếu bản sao kê sử dụng thẻ tín dụng tính đến ngày 27/8/2024, ông Võ Hoàng D còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền 94.413.007 đồng (trong đó nợ gốc là 28.726.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.686.014 đồng).

Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện, yêu cầu ông Võ Hoàng D phải trả ngay cho nguyên đơn tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 94.413.007 đồng đồng, trong đó nợ gốc là 28.726.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.686.014 đồng và yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 28/8/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký.

Thời hạn thanh toán: Trả ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để triệu tập ông Võ Hoàng D tới Tòa án để lấy lời khai, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Võ Hoàng D không đến, do đó Tòa án không lấy lời khai của ông Võ Hoàng D cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được.

Sau khi được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã ký các hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với ông Võ Hoàng D theo như nội dung vụ án đã thể hiện, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Võ Hoàng D có vay tiền qua sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S có Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Do ông Võ Hoàng D không trả tiền đúng hạn nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền khởi kiện.

Tòa án đã xác minh địa chỉ cư trú của ông Võ Hoàng D tại Công an Phường 3, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả xác minh ông Võ Hoàng D có đăng ký tạm trú ở địa chỉ Phường A, quận V, Thành phố H, nhưng hiện nay không còn cư trú tại địa chỉ này, không rõ địa chỉ nơi ở mới. Phía nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ nào khác của bị đơn, ngoài địa chỉ cư trú nêu trên được ghi trong hợp đồng. Nguyên đơn không yêu cầu thông báo tìm kiếm bị đơn trên phương tiện thông tin đại chúng. Do đó có cơ sở xác định địa chỉ trên là địa chỉ cư trú cuối cùng của bị đơn. Do ông Võ Hoàng D cư trú tại quận V, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa kèm Giấy triệu tập đương sự cho ông Võ Hoàng D, nhưng tại phiên tòa hôm nay, bà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Võ Hoàng D.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2]. Về nội dung:

Quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Võ Hoàng D và Ngân hàng Thương mại cổ phần S có thỏa thuận vay tài sản thể hiện trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/3/2018. Từ đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/3/2018 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) được ký giữa ông Võ Hoàng D với Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Xét Ngân hàng Thương mại cổ phần S đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa cho ông Võ Hoàng D với hạn mức sử dụng chung là 25.000.000 đồng, lãi suất 2,15%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Võ Hoàng D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 50.096.500 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Võ Hoàng D đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 26.500.000 đồng; số tiền thanh toán căn cứ theo quy định tại Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở, bị đơn vẫn không thực hiện thanh toán các khoản nợ còn lại cho nguyên đơn. Do đó, ngày 01/11/2018 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng của ông Võ Hoàng D và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, dư nợ tại thời điểm này là 28.726.993 đồng, áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Như vậy, ông Võ Hoàng D đã vi phạm về thời hạn thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ là có căn cứ. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền nợ tính đến ngày 27/8/2024 là 94.413.007 đồng, trong đó nợ gốc là 28.726.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.686.014 đồng và tiền nợ lãi phát sinh sau đó trên nợ gốc còn nợ cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký.

Xét quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt các quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 1026/2024/QĐ-CCTLCC ngày 20/6/2024 cho ông Võ Hoàng D, yêu cầu bị đơn cung cấp bản sao toàn bộ tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc ký kết, thực hiện hợp đồng tín dụng, các khoản vay đã thanh toán, các khoản còn nợ và những tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến tranh chấp giữa bị đơn với nguyên đơn trong vụ án nhưng ông Võ Hoàng D không có ý kiến phản hồi cũng như không giao nộp tài liệu, chứng cứ nào khác.

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoàn 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy lãi suất và phí của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/3/2018 mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật. Do ông Võ Hoàng D vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định trong hợp đồng gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện, yêu cầu thu hồi nợ là có cơ sở pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Cần buộc ông Võ Hoàng D phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 94.413.007 đồng, trong đó nợ gốc là 28.726.993 đồng, nợ lãi quá hạn là 65.686.014 đồng; kể từ ngày 28/8/2024, ông Võ Hoàng D vẫn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ cho đến ngày ông Võ Hoàng D thanh toán hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng các bên đã ký; thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí Tòa án của Chính phủ, yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên bị đơn ông Võ Hoàng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ mà ông Võ Hoàng D phải trả. Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150 Điều 177, Điều 203, Điều 217, Điều 218, Điều 219, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Luật phí, lệ phí và Điều 48 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

- Buộc ông Võ Hoàng D phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/8/2024 là 94.413.007 (Chín mươi bốn triệu bốn trăm mười ba nghìn không trăm linh bảy) đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/3/2018 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), trong đó nợ gốc là 28.726.993 (Hai mươi tám triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm chín mươi ba) đồng, nợ lãi quá hạn là 65.686.014 (Sáu mươi lăm triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn không trăm mười bốn) đồng.

Kể từ ngày 28/8/2024, ông Võ Hoàng D vẫn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tiền lãi phát sinh trên nợ gốc còn nợ cho đến ngày ông Võ Hoàng D thanh toán hết nợ vay theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/3/2018 và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) mà các bên đã ký.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Đến hạn thanh toán trên mà ông Võ Hoàng D không thanh toán hết nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì Ngân hàng Thương mại cổ phần S được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành toàn bộ số tiền còn nợ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Hoàng D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 4.720.650 (Bốn triệu bảy trăm hai mươi nghìn sáu trăm năm mươi) đồng đối với khoản nợ mà ông Võ Hoàng D phải trả là 94.413.007 (Chín mươi bốn triệu bốn trăm mười ba nghìn không trăm linh bảy) đồng.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.077.755 (Hai triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm năm mươi lăm) đồng theo biên lai thu số 0012945 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bị đơn ông Võ Hoàng D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân TP.HCM;

- Viện kiểm sát ND quận Gò Vấp;

- Thi hành án DS quận Gò Vấp;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, HS (Tú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 780/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 780/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger