|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1141/2024/HC-PT
Ngày: 30-9-2024
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính về
việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Khương |
| Các Thẩm phán: | Ông Dương Tuấn Vinh |
| Bà Nguyễn Thị Cúc |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tháng 9 đến ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 450/2024/TLPT-HC ngày 17 tháng 5 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 15/2024/HC-ST ngày 20-02-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2882/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
- Bà Phùng Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ thường trú: Tổ D, Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Ông Đinh Trường G, sinh năm 1973; địa chỉ thường trú: Tổ C, Khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: số D, đường C, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Huỳnh Quang H, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Lê Quốc T, chức vụ: Phó Chủ tịch (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trương Quốc T1, chức vụ: Trưởng Ban Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố P (có mặt).
Người có kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Người khởi kiện bà Phùng Thị N, ông Đinh Trường G trình bày: Về nguồn gốc đất, trước năm 1988 ông Đinh Trường S (chồng bà Phùng Thị N) có khai khẩn diện tích đất đất tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện P (nay là khu phố G, phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang để canh tác, trồng trọt, chăn nuôi, đến năm 1995 ông S cất nhà ở có xác nhận của ấp là ông Lê Xuân K, năm 2002 ông S có làm đơn xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được xác nhận của ông Lê Đình T2, gia đình có đóng thuế nhà đầy đủ. Năm 2003 ông Đinh Trường S tách thửa đất ra một phần cho hai người em ruột là Đinh Trường H1 và Đinh Trường G sử dụng, diện tích còn lại ông S và bà N sử dụng.
Ngày 23/12/2022 Ủy ban nhân dân thành phố P ra Quyết định số 6379/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất 498,32m² đối với ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N (vợ ông Đinh Trường S) để thực hiện Dự án Khu đô thị C tại khu phố G, phường A, thành phố P.
Đến ngày 30/12/2022 Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 6894/QĐ-UBND về việc bổ sung hỗ trợ đất đai, cây trồng cho ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N số tiền 76.110.100 đồng.
Bà N, ông G cho rằng việc bổ sung hỗ trợ về đất đai và cây trồng là chưa phù hợp với quy định của pháp luật vì không kiểm tra xác định rõ thời gian, nguồn gốc sử dụng đất mà chỉ căn cứ vào Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 của UBND tỉnh K giao cấp đất cho Vườn Quốc Gia Phú Q và ghi chung là trước năm 2003 là chưa đúng.
Việc ông Đinh Trường G bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lấn chiếm đất rừng theo Quyết định số 224/KL-QĐ ngày 17/11/2003 của Hạt Kiểm lâm để không bồi thường, hỗ trợ là trái quy định và không thực tế (chưa xác định được vị trí sai phạm, vị trí thu hồi đất thực hiện dự án và chưa làm rõ nguồn gốc đất và hiện tại UBND tỉnh K đã có Quyết định di dời mốc ranh rừng hộ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân).
Bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai, cây trồng đối với diện tích đất 498,32m².
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P bồi thường, hỗ trợ đối diện tích 498,32 m² đã có quyết định thu hồi đất cho bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G theo quy định của pháp luật.
* Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:
Ngày 23/11/2018 UBND huyện P ban hành Thông báo số 1576/TB-UBND, về việc thu hồi đất của ông Đinh Trường G, địa chỉ: Khu phố G, thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang, diện tích đất dự kiến thu hồi là 498,21m², loại đất: trồng cây lâu năm. Ông Đinh Trường G đã ký nhận thông báo thu hồi đất nêu trên.
Thực hiện trình tự thủ tục Ủy ban nhân dân thành phố P giao Ban Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp cùng UBND thị trấn A, đơn vị tư vấn và các cơ quan đơn vị có liên quan tổ chức đo đạc, khảo sát, hoàn chỉnh hồ sơ trình thẩm định ngoại nghiệp và chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn A tổ chức xét duyệt nguồn gốc đất và các chính sách khác cho hộ ông Đinh Trường G theo quy định.
- Ngày 19/8/2022 Hội đồng tư vấn đất đai phường A ban hành Biên bản số 459/BB-XDHĐ, về việc xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất của các hộ dân dự án Khu đô thị C. Diện tích 498,32m² của ông Đinh Trường G được xét duyệt như sau:
- Về nguồn gốc thửa đất: Trước năm 2003 là đất Rừng phòng hộ quản lý theo Quyết định số 2163/QĐ-UB ngày 18/6/1998 đã được UBND tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Q1 (nay là Vườn Quốc gia P) quản lý, năm 2003 ông Đinh Trường G vào sử dụng đất rừng, đã bị Hạt K lập biên bản và ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 244/KL-QĐ ngày 17/11/2003 về hành vi lấn, chiếm đất rừng (theo biên bản kiểm tra hiện trạng của Ban Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày 10/6/2020).
- Về hiện trạng sử dụng nhà, đất và đất có tranh chấp hay không: Hiện trạng trên đất không có nhà.
- Nằm trong hay ngoài ranh giới rừng: Toàn bộ diện tích 498,32m² nằm trong ranh rừng phòng hộ theo Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 của UBND tỉnh K, về việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Q1 (nay là Vườn Quốc Gia P) quản lý. Hiện nằm ngoài ranh rừng phòng hộ theo Quyết định số 2601/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh K.
- Nằm trong hay ngoài Quyết định xử lý sau thanh tra: Không.
- Có bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai không: Có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 244/KL-QĐ ngày 17/11/2003 về hành vi lấn, chiếm đất đai đối với ông Đinh Trường G theo Công văn số 122/KL ngày 02/6/2020 của Hạt Kiểm Lâm huyện P.
- Tỷ lệ biểu quyết: Hiện đang tiếp nhận đơn tranh chấp của bà Phùng Thị N (vợ ông Đinh Trường S) đối với ông Đinh Trường G tại phần diện tích nêu trên.
- Ngày 19/8/2022 Hội đồng tư vấn đất đai phường A ban hành Biên bản số 460/BB-HĐ, về việc xét chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, tỷ lệ mất đất, năm xây dựng nhà, tái định cư và các chính sách hỗ trợ khác cho các hộ dân trong khu vực dự án Khu đô thị C. Diện tích 498,32m² ông Đinh Trường G (03 nhân khẩu) được xét duyệt như sau:
- Về hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện xét chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm do không đủ điều kiện được bồi thường về đất.
- Về tái định cư: Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện tái định cư do không có nhà, không thuộc đối tượng được hỗ trợ tái định cư theo khoản 1, điều 24 Quyết định số 26/2020/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND tỉnh K.
- Hỗ trợ ổn định đời sống: Do đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất. Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện hỗ trợ ổn định đời sống.
- Ngày 31/10/2022 UBND phường A có Báo cáo số 174/BC-UBND, về việc giải quyết đơn tranh chấp của bà Phùng Thị N với ông Đinh Trường G với nội dung bà Phùng Thị N với ông Đinh Trường G đồng ý cùng đứng tên phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu đô thị C đối với diện tích 498,32m² với tư cách đồng sở hữu quyền sử dụng đất.
- Ngày 05/12/2022 Hội đồng tư vấn đất đai UBND phường A ban hành Biên bản số 545/BB-XDHD, về việc điều chỉnh, thay thế một số trường hợp theo kết quả của Hội đồng thẩm định, liên quan đến nguồn gốc sử dụng đất tại Dự án Khu đô thị C. Vị trí khu vực đất quy hoạch tại khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Diện tích 498,32m² của bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G được xét duyệt như sau:
- Về nguồn gốc thửa đất: Nguồn gốc đất do ông Đinh Trường S (là chồng bà Phùng Thị N) khai phá vào thời điểm năm 1996, sau đó ông S tách ra một phần diện tích cho tặng lại em trai là ông Đinh Trường G sử dụng. Trong quá trình ông G sử dụng, vào năm 2003 ông Đinh Trường G đã bị Hạt Kiểm Lâm ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/KL-QĐ ngày 17/11/2003 về hành vi lấn, chiếm đất rừng (theo biên bản kiểm tra hiện trạng của Ban bồi thường hỗ trợ và tái định cư ngày 10/6/2020), nhưng ông Đinh Trường G vẫn tiếp tục canh tác sử dụng trồng Tràm bông vàng và Xà cừ trên đất. Đến ngày 14/12/2012 UBND tỉnh K ban hành Quyết định số 2601/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, giao đất cho UBND thị trấn A (nay là phường A) quản lý, nhưng thực tế Nhà nước không quản lý sử dụng mà ông Đinh Trường G vẫn tiếp tục canh tác và quản lý sử dụng cho đến khi quy hoạch dự án. Khi thực hiện dự án thì xảy ra mâu thuẫn tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Phùng Thị N đối với ông Đinh Trường G. Ngày 21 tháng 10 năm 2022 UBND phường A tổ chức buổi hòa giải, giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Phùng Thị N đối với ông Đinh Trường G. Kết quả hòa giải thành theo biên bản số 19/BB-HGTCĐĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 của UBND phường A
- Về hiện trạng sử dụng nhà, đất và đất có tranh chấp hay không: Hiện trạng trên đất không có nhà. Hiện trạng đất hiện không tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Nằm trong hay ngoài ranh giới đất rừng: Toàn bộ phần diện tích 498,32 m² nằm trong ranh rừng phòng hộ theo Quyết định 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 của UBND tỉnh K, về việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Q1 (nay là Vườn Quốc G1 thành phố) quản lý. Hiện nằm ngoài ranh giới rừng phòng hộ theo Quyết định số 2601/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh K.
- Nằm trong hay ngoài Quyết định xử lý sau thanh tra: Không.
- Có bị xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực Đất đai hay không: Có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/KL-QĐ ngày 17/11/2003 về hành vi lấn, chiếm đất đai đối với ông Đinh Trường G theo Công văn số 112/KL ngày 02/6/2020 của Hạt Kiểm Lâm huyện P.
- Kết luận Hội đồng: Thống nhất 100% điều chỉnh về nguồn gốc sử dụng đất của ông Đinh Trường G và đồng sở hữu quyền sử dụng đất là bà Phùng Thị N. Đồng thời thay thế mục nguồn gốc sử dụng đất của ông Đinh Trường G tại số thứ tự số 14 của Biên bản số 459 ngày 19/8/2022 của Hội đồng TVĐĐ phường An Thới.
- Ngày 05/12/2022, Hội đồng tư vấn đất đai UBND phường A ban hành Biên bản số 546/BB-XDHD, về việc họp điều chỉnh, thay thế một số trường hợp xét chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm của các hộ dân tại dự án Khu đô thị C. Vị trí khu vực đất quy hoạch tại khu phố G, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Kết quả xét nguồn gốc, tỷ lệ mất đất của Hội đồng tư vấn đất đai phường A: Hội đồng thống nhất hỗ trợ 70% về đất theo điểm a, khoản 1, Điều 20, Quyết định 26/2020/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND tỉnh K. Biên bản này thay thế mục nguồn gốc sử dụng đất của ông Đinh Trường G tại số thứ tự số 18 của biên bản số 460/BB-HĐ ngày 19/8/2022 của Hội đồng Tư vấn đất đai phường A
- Xác định đối tượng xét chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm của Hội đồng tư vấn đất đai phường A: Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm do không đủ điều kiện được bồi thường về đất.
- Kết quả xét chính sách tái định cư của Hội đồng tư vấn đất đai phường A: Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện hỗ trợ tái định cư do không có nhà, không thuộc đối tượng hỗ trợ tái định cư theo khoản 1, Điều 24 tại Quyết định số 26/2020/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND tỉnh K.
- Kết quả xét chính sách hỗ trợ ổn định đời sống của Hội đồng tư vấn đất đai phường A: Do đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất. Hội đồng thống nhất không đủ điều kiện hỗ trợ ổn định đời sống.
Ngày 23/12/2022 Ủy ban nhân dân thành phố ban hành:
- Quyết định số 6364/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khu Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Khu đô thị C tại phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Quyết định số 6379/QĐ-UBND, về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với diện tích 498,32m² của bà Phùng Thị N với ông Đinh Trường G.
Căn cứ kết quả xét duyệt nguồn gốc đất và quy định của pháp luật thì diện tích 498,32m² của bà Phùng Thị N với ông Đinh Trường G đủ điều kiện hỗ trợ 70% về đất theo Điểm a, Khoản 1, Điều 20, Quyết định 26/2020/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND tỉnh K Ngày 30/12/2022 Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 6894/QĐ-UBND về việc hỗ trợ về đất đai, bồi thường cây trồng cho bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G với tổng số tiền 76.110.100 đồng (Trong đó: Hỗ trợ về 70% giá trị quyền sử dụng đất 71.160.100 đồng, cây trồng: 4.950.000 đồng). Từ những căn cứ trên, Ủy ban nhân dân thành phố P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử bác toàn bộ nội dung khởi kiện của bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 15/2024/HC-ST ngày 20-02-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, đã tuyên xử:
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N.
Hủy Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai, cây trồng cho ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật trong việc bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 498,32m² đã thu hồi đất tại Quyết định số 6379/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 29/3/2024, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị kiện cho rằng: Diện tích đất thu hồi ông Đinh Trường G là người bao chiếm đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thì chỉ được hỗ trợ về đất đai 70% chứ không được bồi thường về đất, đề nghị chấp nhận kháng cáo của người bị kiện sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Diện tích đất của bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G là lấn chiếm đất rừng, đã bị xử phạt hành chính nên Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai 70% là có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P là trong hạn luật định hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
- Về nguồn gốc 498,32m² loại đất trồng cây lâu năm của bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G bị thu, do ông Đinh Trường S (là chồng bà Phùng Thị N) khai phá vào thời điểm năm 1996, sau đó ông S tách ra một phần diện tích cho tặng lại em trai là ông Đinh Trường G sử dụng; Ngày 18/6/1998, UBND tỉnh K đã ban hành Quyết định số 2163/QĐ-UBND về việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Q1 (nay là Vườn Quốc Gia P) quản lý. Theo Quyết định này diện tích 498,32m² nêu trên của ông G, bà N đã bị UBND tỉnh kiên G đưa vào đất thuộc rừng phòng hộ; Ngày 17/11/2003, ông Đinh Trường G bị Hạt kiểm lâm P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/KL-QĐ xử phạt hành chính về hành vi lấn, chiếm đất đai. Buộc phải di dời ra khỏi rừng vi phạm (bút lục 73); Ngày 14/12/2012, UBND tỉnh K thu hồi và giao cho UBND thị trấn A quản lý để đề xuất giao đất, cho thuê đất (đã đưa diện tích đất này ra khỏi diện tích rừng phòng hộ); Ngày 16/12/2020, Ban Q1 đã ban hành Quyết định số: 254/QĐ-BQLKKTPQ phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ/500 Khu đô thị C, trong đó có diện tích đất của ông G, bà N.
- Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên thấy rằng: Từ ngày ngày 18/6/1998 đến nay diện tích đất 498,32m² trồng cây lâu năm của bà N và ông G là đất rừng do Nhà nước quản lý. Ngày 17/11/2003, Ông G là người trực tiếp quản lý đất đã bị Hạt kiểm lâm P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/KL-QĐ xử phạt hành chính về hành vi lấn, chiếm đất đai và buộc ông G phải di dời ra khỏi rừng. Như vậy, diện tích đất 498,32m² của bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G là đất rừng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ vào Điều 83 Luật đất đai 2013; Điều 25 Nghị định 47/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Đ a, Khoản 1, Điều 20, Quyết định 26/2020/QĐ-UBND ngày 22/12/2020 của UBND tỉnh K thì việc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai, cây trồng cho ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N (hỗ trợ 70% về đất diện tích 498,32m²) cho bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho ông G, bà N.
- Việc Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang áp dụng khoản 2 Điều 77, Điều 83 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 13 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ để tuyên hủy Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P và buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật trong việc bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 498,32m² đã thu hồi đất là không phù hợp quy định pháp luật về đất đai đã viện dẫn trên. Do đó yêu cầu kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P là có căn cứ được chấp nhận.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ủy ban nhân dân thành phố P đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của ông G, bà N là có căn cứ chấp nhận.
- Về án hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N bị bác nên ông G và và N phải chịu.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P được chấp nhận nên Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính.
Chấp nhận kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P.
Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số: 15/2024/HC-ST ngày 20-02-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 83 Luật đất đai 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N về đề nghị hủy Quyết định số 6894/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ đất đai, cây trồng cho ông Đinh Trường G và bà Phùng Thị N và đề nghị buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đất đai đối với diện tích đất 498,32m² đã thu hồi.
- Án phí hành chính sơ thẩm:
Bà Phùng Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0001356 ngày 05/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Ông Đinh Trường G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0001357 ngày 05/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Án phí hành chính phúc thẩm:
Ủy ban nhân dân thành phố P không phải chịu.
Trả lại cho Ủy ban nhân dân thành phố P 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0006242 ngày 12/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Nguyễn Văn Khương |
8
Bản án số 1141/2024/HC-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Số bản án: 1141/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phùng Thị N và ông Đinh Trường G kiện Uỷ ban nhân dân thành phố P về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”.
