|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 31/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chung, ông Nguyễn Thế Sách.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy – Thư ký Tòa án thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu T, sinh năm 1950. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. HKTT: Khu G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 10/10. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Hữu D, sinh năm 1900 (Đã chết). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D1, sinh năm 1913 (Đã chết). Gia đình có 04 anh, chị, em bị cáo là con thứ tư. Họ và tên vợ: Dương Thị N, sinh năm 1950. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1977, con nhỏ sinh năm 1986.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú" từ ngày 01/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T: Bà Nguyễn Thị H – Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1982; vắng mặt
HKTT: Khu G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu O, sinh năm 1986
HKTT: Khu G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1982, HKTT: Khu G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đang phun thuốc trừ cỏ tại đường ngõ lối đi vào nhà của mình thuộc Khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh thì Nguyễn Hữu T, sinh năm 1950, HKTT: Khu G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cùng vợ là bà Dương Thị N, sinh năm 1950 (là hàng xóm ngay sát cạnh nhà anh D2) đang ngồi tại trước cửa nhà. Theo T và bà N khai: Thấy D2 phun thuốc cỏ bà N nói “Mày đừng phun thuốc vào rau của tao, để tao dọn”, nhưng D2 nói lại "Ngõ nhà bà à mà bà giữ ..." và vẫn cứ phun. Nghe D2 nói vậy thì bà N nói tiếp: “Ở xung quanh toàn giống chó cả”. D2 nghe biết bà N chửi mình nên nói lại “Ở đây chẳng biết ai là chó cả, đường nhà tao tao phun, Đ. mẹ lũ chó”. Khi thấy bà N và anh D2 chửi nhau, T có đi ra cổng nói với D2: “Thằng này sao giờ mày hỗn thế, đường đi mày không được phun”, D2 nói lại “Đường đi vào nhà tôi thì tôi phun”. Sau đó hai bên có lời qua tiếng lại với nhau. D2 khai: Khi đang phun thuốc cỏ ở lối đi vào nhà thì bà N nói: "ở xung quanh T1 lũ chó cả", thấy vậy D2 nói: "Đường đi vào nhà tôi thì tôi phun, tôi tôn tạo". Lúc này, Nguyễn Hữu O (là con đẻ của T) từ trong nhà đi ra chỉ mặt D2 và nói: “Ông ăn nói cho hẳn hoi, bố mẹ tôi già rồi, ông mày tao với ai, ông chửi ai?”, D2 trả lời: “Tao chửi đứa nào chửi tao đấy”. Sau đó, O dùng tay phải giằng lấy chiếc ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại mà D2 đang cầm đập một cái trúng vào vùng đuôi mắt phải của D2. Duân giằng lại thì bị O dùng tay trái đấm liên tiếp hai cái trúng vào xương quai hàm bên phải. Duân và O tiếp tục giằng co khiến chiếc ống bơm thuốc sâu bị cong gập dơi xuống dưới nền đường. Khi thấy anh D2 và O đang giằng co thì anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1980 (là anh trai của D2) và Nguyễn Thị P, sinh năm 1985 (là vợ của D2) ở cùng địa chỉ với D2 vào can ngăn kéo O và D2 ra. Lúc này, T từ sân nhà mình chạy đến xông vào giằng co nhau với D2, D2 dùng tay đấm trúng vào mắt phải khiến T lùi lại thì vấp ngã ngửa về phía sau. Sau khi bị D2 đấm T chạy về nhà lấy 01 (một) con dao, loại dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm. Trong lúc T chạy vào nhà, O và D2 tiếp tục lao vào đánh nhau thì được anh T2 và hàng xóm can ngăn kéo O và D2 ra không cho đánh nhau. Khoảng vài phút sau, T cầm con dao rựa bằng tay phải từ trong nhà chạy đến đứng đối diện vả mặt dao dựa về phía người Duân theo hướng từ phải sang trái, D2 ngả người về phía sau để tránh nhưng không kịp nên mặt dao trúng vào phần má trái, vùng cổ dưới tai trái của anh D2. Sau đó, O có xông vào can ngăn kéo T ra, còn anh T2 kéo anh D2 ra, đồng thời người dân xung quanh cũng vào can ngăn, sự việc sau đó không đánh nhau nữa. Lúc này D2 được chị P đưa đi khám điều trị tại Trung tâm y tế thị xã Q.
* Thương tích của Nguyễn Văn D2
- Tại Giấy chứng nhận thương tích số 21 ngày 21/8/2023 của Trung tâm y tế thị xã Q xác định thương tích ban đầu của Nguyễn Văn D2 như sau:
"+ Sưng nề vùng hàm mặt hai bên, cụ thể: Vùng sau tai trái, cách dái tai trái 3,5 cm có 01 vết xước da kích thước 5 x 0,1 cm, không chẩy máu."
- Tại bản kết luận giám định số 200/23/KLTTCT-PYQG ngày 26/10/2023 của V kết luận:
" a. Các kết luận chính:
+ Thương tích vùng tai phải và đuôi lông mày phải hiện không còn dấu vết.
+ Sẹo vùng sau tai trái kích thước nhỏ.
b. Kết luận
+ Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D2 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm), áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Vết xước da để lại sẹo sau tai trái do vật có cạnh tác động gây ra. Các thương tích khác hiện không còn dấu vết thương tích nên không có cơ sở để xác định cơ chế hình thành vết thương.
- Ngày 09/11/2023, V gửi Công văn phúc đáp số 753/PYQG-GĐ về việc giải thích một số nội dung liên quan đến giám định tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D2 theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 200/23/KLTTCT-PYQG ngày 26/10/2023 như sau:
" + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn D2 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm) tại Kết luận giám định số: 200/23/KLTTCT-PYQG là tỷ lệ phần trăm của tổn thương “Sẹo vùng sau tai trái”.
+ Trong các vật gửi giám định thì con dao rựa (Cạnh sống dao) có thể gây ra được thương tích ở vết xước da để lại sau tai trái của Nguyễn Văn D2."
* Thương tích của Nguyễn Hữu T:
- Tại Giấy chứng nhận thương tích số 24 ngày 31/8/2023 của Trung tâm y tế thị xã Q xác định thương tích ban đầu của Nguyễn Hữu T như sau:
"+ 2 M: Sưng nề bầm tím, nhìn mờ, cộm chói, kết mạc cương tụ, giác mạc phù, t3 đục."
- Tại bản kết luận giám định số 202/23/KLTTCT-PYQG ngày 26/10/2023 của V kết luận:
" a. Các kết luận chính:
+ Sẹo mặt mu tay đốt I ngón 3 bàn tay trái kích thước nhỏ.
+ Sưng nề, bầm tím vùng mắt hiện không còn dấu vết. Khám chuyên khoa mắt hiện không phát hiện tổn thương do chấn thương.
b. Kết luận
+ Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác
định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm), áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Thương tích bàn tay trái do vật có cạnh sắc gây ra. Bầm tím vùng mắt phải theo ghi nhận trong hồ sơ bệnh án hiện không còn dấu vết thương tích là do vật tày gây nên.
+ Với các hung khí như chiếc ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại, mảnh ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại bị gãy, con dao rựa, hung khí nào có thể gây ra vết thương ở ngón tay giữa bàn tay trái của ông Nguyễn Hữu T?. Mảnh ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại bị gãy (01 đầu bị nham nhở) và con dao rựa đều có thể gây nên."
- Ngày 07/11/2023, V gửi Công văn phúc đáp số 744/PYQG-GĐ về việc giải thích một số nội dung liên quan đến giám định tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 202/23/KLTTCT-PYQG ngày 26/10/2023 như sau:
"+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T tại thời điểm giảm định là: 01% (Một phần trăm) tại Kết luận giám định số: 202/23/KLTTCT-PYQG là tỷ lệ phần trăm của tổn thương “Sẹo mu tay đốt I ngón 3 bàn tay trái”.
+ Trong các vật gửi giám định không có vật nào gây ra được thương tích vùng mắt như ghi nhận trong bệnh án điều trị của ông Nguyễn Hữu T. Nắm đấm của con người, đấm vào mắt có thể gây ra được vết bầm tím ở mắt phải của ông Nguyễn Hữu T."
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Nguyễn Hữu T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSQV ngày 01/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo T đã khai nhận: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, do có mâu thuẫn trong việc bơm thuốc cỏ vào khu vực ngõ đi chung nên bị cáo và anh Nguyễn Văn D2 (là hàng xóm ngay sát nhà của bị cáo, cùng ở Khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh) xảy ra xô sát, chửi bới nhau. Bị cáo đã có hành vi dùng 01 con dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm vả phần mặt dao dựa trúng vào phần má trái, vùng cổ dưới tai trái của anh D2. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội "Cố ý gây thương tích" và áp dụng điểm a, Khoản 1, Điều 134; điểm i, o, s, x Khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Hữu T từ 06 - 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D2 tiền thuốc, tiền viện phí, điều trị thương tích là 912.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại bị gãy; 01con dao, loại dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm; 01 bơm phun thuốc trừ cỏ có chiều dày 80 cm bằng kim loại.
Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T nhất trí với tội danh, điều luật và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời đề nghị với Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, xử phạt các bị cáo với hình phạt nhẹ nhất.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; các bản tự khai, các biên bản ghi lời khai cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, tại đường ngõ lối đi vào nhà của bị cáo Nguyễn Hữu T và Nguyễn Văn D2 thuộc Khu phố G, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, do có mâu thuẫn trong việc bơm thuốc cỏ vào khu vực ngõ đi chung nên 02 bên xảy ra xô sát, chửi bới nhau. Sau đó, bị cáo T có hành vi dùng 01 con dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm (là hung khí nguy hiểm) vả phần mặt dao dựa trúng vào phần má trái, vùng cổ dưới tai trái của anh D2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích", tội phạm và hình phạt được được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với bị cáo T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và hoàn toàn nhận thức được việc dùng 01 con dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm vả vào phần mặt của bị hại là hành vi nguy hiểm có thể gây thương tích cho bị hại nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý nên cần xử phạt bị cáo tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo từng tham gia kháng chiến chống Mỹ và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì, bị cáo hiện nay đã trên 70 tuổi, do vậy bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, o và x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo, đối chiếu với các quy định về điều kiện được hưởng án treo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các chứng từ hóa đơn chi phí khám chữa bệnh, thuốc men do anh D2 xuất trình tổng số tiền là 912.000 đồng, hiện nay anh D2 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí khám chữa bệnh, thuốc men, không yêu cầu bị cáo bồi thường về tổn thất sức khỏe và tinh thần nên buộc bị cáo phải bồi thường cho anh D2 số tiền là 912.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 mảnh ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại bị gãy; 01 con dao, loại dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm; 01 bơm phun thuốc trừ cỏ có chiều dày 80 cm bằng kim loại đều là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Liên quan trong vụ án này còn có:
- Đối với anh Nguyễn Hữu O dùng ống bơm thuốc trừ cỏ bằng kim loại đánh vào vùng đuôi mắt phải của anh Nguyễn Văn D2. Tuy nhiên tại thời điểm giám định thương tích vùng đuôi mắt phải không còn dấu vết, không xác định được tỷ lệ tổn
thương cơ thể nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q ra Quyết định xử lý hành chính đối với anh O là phù hợp.
- Đối với anh Nguyễn Văn D2 có hành vi dùng tay đấm vào mắt phải của bị cáo T nhưng tại thời điểm giám định theo Kết luận của V thì " Sưng nề, bầm tím vùng mắt hiện không còn dấu vết. Khám chuyên khoa mắt hiện không phát hiện tổn thương do chấn thương" nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với D2 về hành vi gây thương tích cho bị cáo T. Tuy nhiên, ngoài hành vi trên anh D2 còn có hành vi dùng chân tay đánh nhau với bị cáo O nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q ra Quyết định xử lý hành chính đối với anh D2 là phù hợp.
- Đối với thương tích ở mu bàn tay của bị cáo T, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q lấy lời khai của bị cáo T, bị cáo T khai không rõ vết thương ở ngón tay giữa bàn tay trái là do ai gây ra, sau khi được mọi người can ngăn đứng ở cổng mới thấy ngón tay giữa bàn tay phải bị chảy máu. Nhân chứng trình bày không thấy ai gây thương tích cho bị cáo T. Lời khai anh D2 khẳng định không gây thương tích trên cho bị cáo T. Sau khi bị cáo T cầm dao đánh anh D2 thì có người vào can ngăn giữ tay bị cáo T. Quá trình điều tra không có căn cứ xác định thương tích trên do anh D2 gây nên. Vì vậy, không đủ căn cứ khởi tố Duân đối với thương tích tại ngón tay giữa bàn tay trái của bị cáo T.
- Đối với hành vi xô xát đánh, chửi nhau của anh Nguyễn Hữu O, anh Nguyễn Văn D2 và bị cáo Nguyễn Hữu T diễn ra trong khoảng thời gian ngắn và ở trong ngõ của gia đình anh D2 và bị cáo T, không có người qua lại nên không gây ảnh hưởng đến người dân khu xung quanh và an ninh trật tự nên không đủ yếu tố cầu thành tội "Gây rối trật tự công cộng", cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý các đối tượng về hành vi này là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo sinh năm 1950, là người cao tuổi, căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Hữu T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự; Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D2 tiền thuốc, tiền viện phí, điều trị thương tích là 912.000 đồng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh ống bơm thuốc cỏ bằng kim loại bị gãy; 01 con dao, loại dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm; 01 bơm phun thuốc trừ cỏ có chiều dày 80 cm bằng kim loại. (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 88 ngày 26/4/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo T.
Kể từ khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo qui định của Điều 468 BLDS 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Thảo |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 10/7/2023, tại đường ngõ lối đi vào nhà của bị cáo Nguyễn Hữu T và Nguyễn Văn D thuộc Khu phố G, phường V, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, do có mâu thuẫn trong việc bơm thuốc cỏ vào khu vực ngõ đi chung nên 02 bên xảy ra xô sát, chửi bới nhau. Sau đó, bị cáo T có hành vi dùng 01 con dao rựa dài 50 cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 39 cm (là hung khí nguy hiểm) vả phần mặt dao dựa trúng vào phần má trái, vùng cổ dưới tai trái của anh D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%.
