Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Duy Bảo

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị G, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1966 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: C tổ A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T; con bà: Võ Thị K; Có chống tên: Phan H; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/8/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo có kháng cáo, đến ngày 27/4/2000 Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm, đến ngày 20/10/2001 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 21/9/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo có kháng cáo, đến ngày 16/12/2004 Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm, tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm, đến ngày 31/10/2006 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 07/12/2007 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc với số tiền 500.000 đồng (Qua xác minh không có lưu trữ trên hệ thống); Ngày 16/8/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 06/12/2009 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 30/12/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/9/2015 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 02/3/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 21/5/2017 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Ngày 06/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án bị kháng nghị, đến ngày 21/7/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 07/02/2021 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2023 (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1965; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 256 khu phố C, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ ngày 15/11/2023, Nguyễn Thị G một mình đón xe buýt từ nhà trọ ở huyện H đến Bệnh viện H1, địa chỉ số A H, Phường A, Quận E tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 12 giờ cùng ngày, G đến Bệnh viện H1, G đi bộ lên lầu 4, dãy E, khoa Hậu phẫu, tòa nhà B, Bệnh viện H1 thì phát hiện bà Phạm Thị S đang ngồi tại trước phòng E409 và trong túi quần bên phải có để tiền. Lúc này, G đi lại ngồi xuống kế bên bà S giả vờ tiếp cận bắt chuyện, lợi dụng lúc bà S không cảnh giác Giáp lén lút dùng tay trái đưa vào túi quần bên phải của bà S lấy trộm số tiền 2.254.000 đồng rồi giấu vào túi bên trái áo khoác đang mặc, giả vờ nghe điện thoại đi ra ngoài để tẩu thoát. Lúc này, bà S phát hiện mất tiền nên truy hô và cùng các bảo vệ của Bệnh viện H1 đuổi theo bắt giữ G cùng vật chứng giao cho Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 2.254.000 đồng (hai triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, số S: 7PKVNFWGA65TIBH6; 01 (một) bộ đồ (gồm quần và áo) màu xanh da trời, sọc nâu; 01 (một) áo khoác nâu thun tay dài; 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận sự việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Thị G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Thị G đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 2.254.000 đồng của bà Phạm Thị S. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng khi chấp hành xong hình phạt bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và có giá trị không lớn nên xem như chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, các lần xét xử trước đây đã áp dụng hình phạt đối với bị cáo nhưng chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nên cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội nhưng khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[8] Về xử lý vật chứng:

Xét số tiền 2.254.000 đồng (hai triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng) là tài sản của bị hại Phạm Thị S, Cơ quan Công an đã thu hồi trả lại cho bà S nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, số S: 7PKVNFWGA65TIBH6 là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo G.

Xét 01 (một) bộ đồ (gồm quần và áo) màu xanh da trời, sọc nâu; 01 (một) áo khoác nâu thun tay dài là trang phục cá nhân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo G không có yêu cầu nhận lại số trang phục nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận sự việc phạm tội, hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 11 năm 2023.

Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ đồ (gồm quần và áo) màu xanh da trời, sọc nâu; 01 (một) áo khoác nâu thun tay dài.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị G: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A54 màu xanh, số S: 7PKVNFWGA65TIBH6.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu ghi nhận sự việc phạm tội (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06-Công an TpHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger