|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30-7-2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Lệ Hoa
Bà Lê Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé T, sinh năm 1978 (có yêu cầu xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 bà Trần Thị Bé T trình bày:
Bà T và ông Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường BTĐ, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 29/7/2008. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông Q. Thời gian chung sống bà T và ông Q có con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh ngày 08/9/2004 nhưng do con chung đã trưởng thành nên theo ai người đó nuôi dạy; Tài sản chung, nợ chung không có nên bà T không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Trần Thị Bé T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Q. Do ông bà chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Huỳnh Văn Q có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Q nhưng ông Q không có văn bản ý kiến về yêu cầu của bà T và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Q theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bà T có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Bà T và ông Q tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường BTĐ, xã BT, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 29/7/2008. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tổ chức hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông Q và bà T vắng mặt tại lần hòa giải và xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Trần Thị Bé T và ông Huỳnh Văn Q được ly hôn.
[4] Thời gian chung sống ông bà có con chung tên Huỳnh Tấn P, sinh năm 2004 (giới tính nam) bà T không yêu cầu giải quyết do con đã trưởng thành là có cơ sở. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Bé T và ông Huỳnh Văn Q được ly hôn.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Bé T phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 20 tháng 5 năm 2024 bà T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016220 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
Hồ Lệ Hoa – Lê Thị Duyên |
Nguyễn Kiều Trang |
Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T và ông Q ly hôn
