|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2023/HS-ST Ngày: 29/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hảo
Ông Nguyễn Văn Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
tham gia phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn M, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/4/2002, tại: huyện S, tỉnh Lai Châu; nơi thường trú: bản P, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở: khu T, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quàng Văn H và bà Quàng Thị X; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/8/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Ngô Minh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04/8/2023, Quàng Văn M được 02 người thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở cùng khu lán trại tại khu T, phường T, thành phố M đến rủ M đi mua ma túy “đá” về cùng sử dụng. M đồng ý và đón xe mô tô chở khách đi đến khu vực cổng Trung tâm y tế thành phố M, gặp và hỏi mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) 500.000 đồng ma túy “đá”. M đưa cho người đàn ông 500.000 đồng thì được người này điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở M đến khu vực bồn hoa phía trước khách sạn V thuộc khu B, phường H, thành phố M và bảo M xuống xe đứng đợi, còn người đàn ông điều khiển xe mô tô đi lấy ma túy. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, người đàn ông này quay lại, đưa cho M 01 gói ma tuý rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. M cầm gói giấy đứng đón xe đi về lán trại để sử dụng, thì bị Tổ công tác của Công an phường H, thành phố M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Trong lòng bàn tay trái của M 01 gói giấy bên trong gói 01 túi nilon kích thước (02x03)cm chứa chất tinh thể màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 1142 ngày 10/8/2023, của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Quàng Văn M là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,315 (không phẩy ba một lăm gam).
Bản Cáo trạng số 109/CT-VKSMC ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Quàng Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Người chứng kiến Ngô Minh N vắng mặt nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra xác định: khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04/8/2023 anh được chứng kiến việc Công an kiểm tra 01 nam thanh niên khai tên Quàng Văn M và thu giữ của M 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. M khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy (đá) mà M vừa mua với giá 500.000₫ để sử dụng cho bản thân.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Quàng Văn M từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 04/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người chứng kiến thấy rằng người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai, nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 10 giờ 45 phút ngày 04/8/2023, tại khu B, phường H, thành phố M, Quàng Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0,315 (không phẩy ba một lăm) gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Quàng Văn M phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà nó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm mất trật tự trị an trong xã hội, do đó Nhà nước đã độc quyền quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt, mọi hành vi trái phép liên quan đến ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng ma túy, nhưng vì lối sống buông thả và nhu cầu cá nhân nên bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi “Phòng kỹ thuật hình sự Đội giám định số 1142/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 1142 ngày 10/8/2023 vụ Quàng Văn M”, là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán ma túy cho M và hai thanh niên rủ M đi mua ma túy về cùng sử dụng, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, không có căn cứ xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập.
[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Quàng Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Quàng Văn M 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 04/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong theo đúng quy định, còn nguyên vẹn, không rách nát. Mặt trước phong bì ghi “Phòng kỹ thuật hình sự Đội giám định số 1142/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 1142 ngày 10/8/2023 vụ Quàng Văn M.
Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 20/2024/THA ngày 08/11/2023.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Quàng Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |
Bản án số 114/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 05/8/2023, Quàng Văn M có hành vi tàng trữ trái phép 0.315gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang
