|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Ánh và bà Trần Thị Yến Nhi
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Yến N, sinh năm: 2002
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Ngô Xuân H, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
(Chị N, anh H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07/5/2024, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/6/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng có xảy ra cãi vã xung đột nên cũng từ thời gian này chị và anh H đã không còn sống chung với nhau từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh H nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Xuân H.
Về con chung: Chị N và anh H có 01 con chung là Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022, khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Đ cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
Lời trình bày của anh Ngô Xuân H tại bản tự khai như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị N tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2022, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/6/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến giữa năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng có xảy ra cãi vã, vợ chồng đã nhiều lần tự hòa giải để hàn gắn, đoàn tụ nhưng không được. Từ đầu năm 2023 cho đến nay anh và chị N đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh H và chị N có 01 con chung là Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022, khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm: Căn cước công dân (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), giấy khai sinh con (bản sao); bản tự khai (bản chính).
Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: bản tự khai của bị đơn
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về đường lối giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 và điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H.
+ Về con chung: Đề nghị giao con chung là Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N, anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Anh Ngô Xuân H có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.
[1.2]. Chị N có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và xác định chị N là nguyên đơn, anh H là bị đơn.
[1.3]. Chị N, anh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh H tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2022 đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/6/2022, số 54. Như vậy, hôn nhân giữa chị N, anh H được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị N yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện: Chị N yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, vợ chồng không thông cảm và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, không còn thương yêu, quan tâm đến nhau. Từ năm 2023 cho đến nay, vợ chồng chị N đã không còn sống chung với nhau. Lời khai của chị N về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng được bị đơn anh H thừa nhận, bản thân anh H cũng đồng ý ly hôn với chị N tuy nhiên anh H không đến Tòa án làm việc và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Như vậy, có căn cứ xác định chị N và anh H đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để chị N và anh H có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H.
[2.2]. Về con chung: Chị N, anh H có 01 con chung là Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022, khi ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị N cũng đồng ý giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, đây là sự tự thỏa thuận của các đương sự và phù hợp với quy định của pháp luật, ngoài ra từ khi chị N, anh H không còn sống chung với nhau, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bản thân anh H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của anh H là có cơ sở chấp nhận.
Từ các căn cứ trên, để đảm bảo cho cháu Đ phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tránh sự xáo trộn về đời sống tâm lý, Hội đồng xét xử quyết định giao Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh H không có yêu cầu.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N, anh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ.
Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Yến N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Yến N được ly hôn với anh Ngô Xuân H.
Về con chung: Giao con chung là Ngô Hải Đ – sinh ngày 26/5/2022 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh H không có yêu cầu. Chị N có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
2. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp theo biên lai thu số 0013154 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Bá Đại |
Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị N và anh H
