Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/HNGĐ-ST

Ngày 28/11/2023

V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu
  2. Ông Nguyễn Bính

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hường, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 474/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 577/2023/QĐST - HNGĐ ngày 13/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Xuân Q, sinh năm: 1980.
  2. Địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm: 1985.
  4. Địa chỉ: khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Xuân Q và bà Nguyễn Thị Hồng Á tự nguyện chung sống và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy chứng nhận kết hôn số 57, ngày 22/8/2005.

Trong quá trình vợ chồng chung sống, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc. Những năm sau đó, ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không cùng quan điểm dẫn đến thường xuyên cãi nhau, vợ chồng bất hòa không còn hạnh phúc nên từ năm 2021 ông bà đã ly thân cho đến nay, mạnh ai người đó sống, không quan tâm đến nhau nữa.

Nay ông Q xác định tình cảm vợ chồng với bà Á không còn, ông Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng Á.

- Về con chung: ông Q và bà Á có 03 con chung tên Trần Nguyễn Quốc V, sinh ngày 05/5/2002; Trần Nguyễn Quốc S, sinh ngày 24/7/2005 và Trần Nguyễn Mai T, sinh ngày 19/5/2014. Ly hôn, ông Q giao con Trần Nguyễn Mai T cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động. Con chung Trần Nguyễn Quốc V và Trần Nguyễn Quốc S đã trưởng thành, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Nguyễn Thị Hồng Á đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà Á vẫn vắng mặt nên Toà án không ghi lời khai, không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Về tố tụng : từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tham gia tố tụng : nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và vắng mặt tại phiên tòa.

- Về nội dung : Qua xem xét hồ sơ và lời khai của đương sự tại phiên tòa, Viện kiểm sát thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa Ông Trần Xuân Q và bà Nguyễn Thị Hồng Á không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó:

Về hôn nhân : đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Trần Xuân Q, ông Trần Xuân Q được ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng Á.

Về con chung: ông Q và bà Á có 03 con chung tên Trần Nguyễn Quốc V, sinh ngày 05/5/2002; Trần Nguyễn Quốc S, sinh ngày 24/7/2005 và Trần Nguyễn Mai T, sinh ngày 19/5/2014. Ly hôn, ông Q giao con Trần Nguyễn Mai T cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu T là bé gái, hiện nay đang sống với gia đình bà Á, mặt khác cháu T có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu, căn cứ theo Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Q, giao cháu T cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi cháu T 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động. Con chung Trần Nguyễn Quốc V và Trần Nguyễn Quốc S đã trưởng thành, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về tài sản chung và nợ chung : do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nghe lời trình bày của đương sự và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Xuân Q có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Hồng Á. Bà Á là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt:

Bà Nguyễn Thị Hồng Á đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Á là đúng quy định của pháp luật.

[3] Về hôn nhân: Ông Trần Xuân Q và bà Nguyễn Thị Hồng Á sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, theo giấy chứng nhận kết hôn số 57, ngày 22/8/2005.

Trong quá trình chung sống do hai bên có sự bất đồng về cách sống nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, ông Q và bà Á không còn sự yêu thương, quý trọng nhau, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, hôn nhân không còn hạnh phúc. Về phía bà Á, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện để ông Q và bà Á hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng bà Á đều vắng mặt. Mặt khác biên bản lấy lời khai của bà Huỳnh Thị Hồng H, là mẹ ruột của bà Á vào ngày 01/11/2023 xác định, ông Q và bà Á sống chung với nhau tại nhà của bà H, từ năm 2020 đã phát sinh mâu thuẫn nên ông Q và bà Á còn chung sống với nhau nữa.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng của vợ chồng bà Á và ông Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Q.

[4] Về con chung: Ông Q và bà Á có 03 con chung tên Trần Nguyễn Quốc V, sinh ngày 05/5/2002; Trần Nguyễn Quốc S, sinh ngày 24/7/2005 và Trần Nguyễn Mai T, sinh ngày 19/5/2014.

Tại phiên tòa ông Q giao con Trần Nguyễn Mai T cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng, ông Q cấp dưỡng tiền nuôi cháu T 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu T tròn 18 tuổi và có khả năng lao động. Con chung Trần Nguyễn Quốc V và Trần Nguyễn Quốc S đã trưởng thành, ông Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Xét thấy hiện nay cháu T đang do gia đình bà Á trực tiếp nuôi dưỡng, cháu T có nguyện vọng ở với mẹ, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Q, giao cháu T cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng: ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.

[6] Về tài sản chung: Ông Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Ông Q khai không có nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về yêu cầu ly hôn và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Điều 51, Đ, Đ, Đ, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân : Cho ly hôn giữa ông Trần Xuân Q và bà Nguyễn Thị Hồng Á.

Vê nuôi con: Ông Trần Xuân Q giao con chung tên Trần Nguyễn Mai T sinh ngày 19/5/2014 cho bà Nguyễn Thị Hồng Á trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trần Xuân Q cấp dưỡng tiền nuôi con 2.000.000 (Hai triệu) đồng/ tháng cho đến khi con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.

Ông Trần Xuân Q và bà Nguyễn Thị Hồng Á có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Ông Trần Xuân Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: ông Trần Xuân Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn và phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Ngày 04/10/2023 ông Q đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0018773 tại Chi cục thi hành án thành phố Phan Thiết nay chuyển sang thành án phí và sung công quỹ nhà nước. Ông Q phải nộp thêm 300.000 đồng án phí để sung công quỹ nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 28/11/2023). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận
  • - Thi hành án dân sự Phan Thiết
  • - UBND phường Phú Tài, Phan Thiết.
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hà Thị Ái Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 114/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN XUÂN QUANG - NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger