Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH OAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

***

Bản án số: 114/2023/HSST

Ngày: 28/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

* Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiểm

* Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Bá Ngọc

2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm - Thư ký Tòa án

* Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thanh Oai: Bà Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa công khai vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2023/HSST ngày 01/11/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXX- TA ngày 13/11/2023 đối với bị cáo:

Lê Huy H

(Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; sinh ngày 08 tháng 06 năm 1995; Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Lê Anh T, sinh năm: 1973; Họ tên mẹ: Lê Thị K, sinh năm: 1973; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1999(đã ly hôn năm 2022) và có 01 con, sinh năm 2019; Nhân thân, Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/07/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố Hà Nội. Có mặt

*Người bị hại:

  1. Ông Lê Anh T, sinh năm 1973. Có mặt
  2. Bà Lê Thị K sinh năm 1973. Có mặt
  3. Lê Thị Hồng A sinh năm 2003. Có mặt

Đều trú tại: thôn S, xã T, huyện T, TP. H

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995. Có đơn xin vắng mặt

Trú tại: Thôn Xuân Hợp, TT Sao vàng, huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hóa

  1. Anh Trần An B, sinh năm 2005. Có đơn xin vắng mặt

Thường trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện P, H

Trú tại: 133 Phùng Khoang, Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Huy H là đối tượng không có việc làm ổn định, thường xuyên chơi bời, vay tiền tiêu xài cá nhân dẫn đến không có khả năng trả nợ. H nhiều lần xin tiền bố mẹ là ông Lê Anh T và bà Lê Thị K để trả nợ nhưng không được, ngày 17/6/2023, H đã bỏ nhà đi thuê trọ tại địa chỉ số nhà 14, ngõ 137, đường Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Tại đây, H tiếp tục gọi điện xin bố mẹ số tiền 117.000.000 đồng để trả nợ nhưng ông T, bà K không đồng ý. Biết gia đình có khả năng trả được nợ cho H nhưng không trả nên H đã nảy sinh ý định giả vờ bị các đối tượng đòi nợ bắt, hành hạ, tra tấn, ép bán thận, sau đó chụp ảnh, quay video clip gửi về cho gia đình để đe dọa, uy hiếp tinh thần, ép gia đình phải chuyển tiền.

Ngày 30/6/2023, H mua 01 sim rác có tên Zalo “N Q Hung”, sau đó kết bạn với tài khoản Zalo của em gái H là Lê Thị Hồng A và chú ruột H là anh Lê Huy Hg, mục đích để nhắn tin, gửi video clip đe dọa yêu cầu chuyển tiền. Sau đó, H lên mạng xã hội đặt mua ngón tay giả và dùng hỗnHtương ớt pha loãng với nước giả làm máu bôi lên ngón tay giả, rồi chụp ảnh gửi cho chị Hg Anh và anh Hg với nội dung đe dọa đã chặt ngón tay của H, nếu gia đình không trả tiền thì sẽ tiếp tục chặt ngón tay khác. Đồng thời, gửi 01 đoạn ghi âm thể hiện nội dung H nợ 117.000.000 đồng và bị các đối tượng chặt ngón tay, mục đích khiến gia đình hoang mang, lo sợ và phải nhanh chóng đưa tiền trả nợ.

Đến đầu tháng 7/2023, H chuẩn bị một túi thịt lợn bị dập nát, một đoạn xương gà, kèm chứng minh nhân dân của H bôi tương ớt loãng giả máu rồi đi xe ôm về nhà và ném trước cổng nhà. Các ngày tiếp theo, H liên tục gửi nhiều tin nhắn cho Hồng Anh và anh Hg với nội dung đe dọa nếu gia đình không trả tiền thì sẽ tiếp tục chặt ngón tay của H, nhỏ keo 502 vào mắt, hành hạ và bán H sang Campuchia.

Ngày 04/7/2023, bạn gái của H là chị Nguyễn Thị H sinh năm 1995, HKTT: thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đến phòng trọ của H chơi nên H đã mượn điện thoại Iphone 11 Pro Max củaHrồi vào nhà vệ sinh tự quay clip hình ảnh ngón tay bị chặt rồi gửi lại vào điện thoại của mình để cắt ghép, chỉnh sửa, tiếp tục gửi cho Hồng Anh để đe dọa. Cùng ngày, H nói vớiHbản thân thiếu nợ, không có tiền trả nênHđã cùng H mang chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max củaHđi bán tại cửa hàng điện thoại của anh Trần An B (sinh năm 2005, HKTT: Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội) ở số 133 đường Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm được 6.000.000 đồng để H trả nợ.

Ngày 10/7/2023, H đã nhờHký tên “Nguyễn Quang Hưng” vào giấy vay tiền, khi ký H đã che phần nội dung không choHđọc. Sau đó, H chụp ảnh giấy vay nợ gửi cho anh Hg với mục đích thông báo việc H nợ Hưng 117.000.000 đồng và yêu cầu gia đình H phải trả nợ, sau đó H đã xé tờ giấy đi.

Ngày 11/7/2023, thông qua mạng xã hội H đã nhờ Đỗ Ngọc Tú sinh năm 1990, trú tại thôn Hồng Phú, xã Thanh Châu, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về gặp bố mẹ H để nói chuyện về số tiền H nợ Hưng, H hứa trả công Tú 5 triệu đồng. Ngày 12/7/2023, Tú đến nhà gặp và nói chuyện với ông T về việc trả nợ cho Hưng 117.000.000 đồng, thì ông T nói phải H và Hưng về đây thì mới trả tiền nợ. Sau đó, Tú đi về.

Ngày 15/7/2023, H chuẩn bị ngón tay giả, keo 502, bôi tương ớt pha loãng lên ngực áo và nhờHquay clip giúp nhưngHkhông đồng ý. Thấy vậy, H mang thớt và dao ra dọa sẽ tự chặt tay khiếnHsợ, phải giúp. H bôi tương ớt lên 02 ngón tay giả và tay mình, rồi nằm ra sàn nhà và bảoHmặc quần bò, đi giày của H giẫm chân lên ngực H, sau đó, nhỏ lọ keo 502 bên trong chứa dung dịch rửa bồn cầu pha loãng, nhỏ vào mắt H đồng thời quay lại clip. Sau khi quay xong, H chỉnh sửa cắt thành nhiều đoạn clip rồi liên tục gửi cho Hồng Anh và anh Hg cùng nhiều tin nhắn đe dọa.

Đến ngày 21/7/2023, lo sợ việc H đã bị các đối tượng đòi nợ tra tấn, hành hạ thật nên Hồng Anh và gia đình đã đến Phòng cảnh sát hình sự - Công an thành phố Hà Nội trình báo sự việc. Cùng ngày, H đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại phòng trọ của Lê Huy H(Phòng 205, số nhà 14, ngõ 137 đường Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội):01 thớt nhựa màu trắng, đường kính 30 cm; 01 con dao chuôi gỗ màu nâu dài 40 cm, bản rộng 10 cm; 01 giá đỡ kẹp điện thoại màu tím dài khoảng 60 cm; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Huy H; 01 thẻ sim điện thoại Vietel số seri 89840-4800-90851-9823; 01 đôi giày màu trắng, đế nhựa ký hiệu FASHION; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu xanh của H;

Ngày 21/7/2023, anh Trần An B giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai đã truy tố Lê Huy Hvề tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Lê Huy Htừ 42 đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì nên Tòa án không xét. Về tang vật: tịch thu, tiêu hủy 01 thớt nhựa màu trắng, đường kính 30 cm; 01 con dao chuôi gỗ màu nâu dài 40 cm, bản rộng 10 cm; 01 giá đỡ kẹp điện thoại màu tím dài khoảng 60 cm; 01 thẻ sim điện thoại Vietel số seri 89840-4800-90851-9823; 01 đôi giày màu trắng, đế nhựa ký hiệu FASHION là công cụ sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu xanh của H sử dụng vào việc phạm tội; trả lại bị cáo H 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Huy H; trả lại cho anh Trần An B 01 điện thoại di động Iphone, số imei 1: 352841111775392; số imei 2: 352841111898581

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1} Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đềuHpháp.

2} Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phùHvới lời khai của người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Do cần tiền để trả nợ cá nhân, nên từ ngày 30/6/2023 đến ngày 21/7/2023, Lê Huy H đã liên tục giả danh đối tượng đòi nợ nhắn tin, gửi hình ảnh, video clip về việc H bị bắt giữ, hành hạ, tra tấn, đánh đập, bị chặt ngón tay, nhỏ keo 502 vào mắt, ép bán thận và bán sang Campuchia cho người thân trong gia đình H là bố mẹ đẻ ông Lê Anh T, bà Lê Thị K và em gái là Lê Thị Hồng A để uy hiếp, đe dọa tinh thần, buộc họ phải đưa số tiền 117.000.000 đồng cho H trả nợ.

Hành vi nêu trên của Lê Huy H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Thanh Oai.

Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền trả nợ, H đã thực hiện hành vi uy hiếp tinh thần của người thân nhằm chiếm đoạt tài sản. Do vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và thực hiện biện pháp đấu tranh phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình; bị cáo phạm tội lần đầu nhân thân chưa tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

3] Đối với Nguyễn Thị Hợp, được H nhờ ký tên Nguyễn Quang Hưng trên giấy vay tiền và được H nhờ quay 1 video H bị tra tấn. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác định khi ký tênHvào giấy vay tiềnHkhông biết là ký nội dung gì; bản thânHbị ép buộc quay video clip giúp H.Hkhông biết mục đích của H là gì, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lýHlà có căn cứ.

4] Đối với Đỗ Ngọc Tú là người được H thuê đến gặp bố mẹ H để nói chuyện về số tiền H nợ Hưng. Quá trình điều tra, xác định Tú không biết việc H đã có hành vi đe dọa, uy hiếp gia đình phải trả 117.000.000 đồng; Tú chưa được hưởng lợi gì trong sự việc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý Tú là có căn cứ.

5] Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro max của Hợp, ngày 04/7/2023Hđã cùng H bán cho anh Trần An B vào ngày 04/7/2023 với giá 6.000.000 đồng, nay chịHđề nghị trả lại cho anh Bình. Anh Bình đề nghị được nhận lại chiếc điện thoại trên, hội đồng xét xử thấy chiếc điện thoại trên anh Bình không biết H sử dụng vào việc phạm tội, tại thời điểm giao dịch anh Bình không biết mọi việc liên quan đến chiếc điện thoại trên, trong điện thoại không có dữ liệu gì. Xét giao dịch mua bán chiếc điện thoại trên giữa anh Bình và chịHlà H toàn tự nguyện, Hpháp, ngay tình nên trả lại anh Bình 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro max

6] Về bồi thường trách nhiệm dân sự: Ông Lê Anh T, bà Lê Thị K, chị Lê Thị Hồng A không yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự nên tòa không xem xét giải quyết.

7] Về tang vật: 01 thớt nhựa màu trắng, đường kính 30 cm; 01 con dao chuôi gỗ màu nâu dài 40 cm, bản rộng 10 cm; 01 giá đỡ kẹp điện thoại màu tím dài khoảng 60 cm; 01 thẻ sim điện thoại Vietel số seri 89840-4800-90851-9823; 01 đôi giày màu trắng, đế nhựa ký hiệu FASHION là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu xanh của H sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước.

+ 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê Huy Hlà giấy tờ tùy thân của bị cáo H nên trả lại bị cáo H

+ 01 điện thoại di động Iphone, số imei 1: 352841111775392; số imei 2: 352841111898581 trả lại cho anh Trần An B.

8] Về án phí: Bị cáo vi phạm pháp luật nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017

- Căn cứ Điều 106; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016

1. Tuyên bố bị cáo Lê Huy H phạm tội “ Cưỡng đoạt tài sản”

2. Xử phạt Lê Huy H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/7/2023

4. Về tang vật:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 thớt nhựa màu trắng, đường kính 30 cm; 01 con dao chuôi gỗ màu nâu dài 40 cm, bản rộng 10 cm; 01 giá đỡ kẹp điện thoại màu tím dài khoảng 60 cm; 01 thẻ sim điện thoại Vietel số seri 89840-4800-90851-9823; 01 đôi giày màu trắng, đế nhựa ký hiệu FASHION (theo biên bản giao nhận vật chứng tại chi cục thi hành án huyện Thanh Oai, Hà Nội)

+ Tịch thu, phát mại, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu xanh (theo biên bản giao nhận vật chứng tại chi cục thi hành án huyện Thanh Oai, Hà Nội)

+Trả lại bị cáo 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Lê Huy H(theo biên bản giao nhận vật chứng tại chi cục thi hành án huyện Thanh Oai, Hà Nội)

+ Trả lại anh Trần An B 01 điện thoại di động Iphone, số imei 1: 352841111775392; số imei 2: 352841111898581

5. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

6. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần quyết định liên quan đến quyền lợi nghĩ vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Oai;
  • - THA huyện Thanh Oai;
  • - CA huyện Thanh Oai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kiểm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 114/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger