TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2023/HS-ST
Ngày 26-10-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
Ông Dương Viết Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quốc Hưng - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2023/TLST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐHPT – ST ngày 28/9/2023 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Đức T, sinh năm 1989
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn X, sinh năm 1966 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Tiền án:
- Ngày 21/6/2011, T bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
- Ngày 18/8/2011, T bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 26/12/2014, T bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, T đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
( Bị cáo T có mặt tại phiên toà)
2. Nguyễn Đình H, sinh năm 1995
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1967 và bà Lưu Thị C, sinh năm 1968. vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Tiền án:
- Ngày 20/12/2013, H bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 14/01/2014, H bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 16/9/2015, H bị tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, T đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
( Bị cáo H có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Bà Lương Thị C1, sinh năm 1960
Địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Bà C1 vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lưu Thị C, sinh năm 1968
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(Bà C có mặt)
2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1967
Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc
(Bà T1 có mặt).
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969
Địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 02/4/2023, Hoàng Đức T gọi điện thoại cho Nguyễn Đình H bảo sang nhà H để nhờ H đưa đi xin việc giúp thì H đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen, BKS: 88D1-458.42 là xe của T từ nhà T tại Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến nhà H tại xóm Đ, xã T, huyện P, rồi ăn cơm và ngủ lại tại đây. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, H điều khiển xe mô tô của T chở T ngồi phía sau để đi xin việc làm. Trên đường đi, T nảy sinh ý định cướp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân nên đã bảo H dừng xe và mở cốp xe cho T. T lấy cờ lê trong cốp xe tháo biển số xe mô tô cho vào cốp xe rồi T nói với H “đi đi xem có chỗ nào để cướp không kiếm ít tiền” thì H đồng ý. T điều khiển xe mô tô đi qua cầu vào chợ Ú thì nhìn thấy bà Lương Thị C1 (Sinh năm1960; trú tại: xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) đi xe đạp màu xanh, mặc áo mưa màu xanh, đầu đội nón lá cũ đi phía trước cùng chiều xe mô tô của H và T. T nhìn thấy hai bên tai của bà C1 đeo mỗi bên một chiếc vòng khuyên tai hình tròn bằng vàng nên đã điều khiển xe đi theo sau xe bà C1 để nhằm mục đích lợi dụng sơ hở cướp khuyên tai của bà C1. Đi được một đoạn thì bà C1 rẽ vào khu dân cư số 2, hướng cầu mới gần UBND thị trấn H, thì T điều khiển xe đi vượt qua rồi vòng xe quay lại rẽ trái và bám theo bà C1. Khi đến đoạn gần quán K thì T dừng xe lại đổi lái cho H để T ngồi phía sau trực tiếp cướp khuyên tai của bà C1. Sau khi bà C1 rẽ trái và đạp xe theo hướng bờ kênh sông đào thì H tiếp tục đi theo sau được khoảng 300 mét đến đoạn vắng người giữa cánh đồng thì xe của H vượt lên bên trái áp sát xe đạp của bà C1 để T cướp khuyên tai thì bà C1 dừng xe lại ở rìa đường bên phải. T đưa tay ra định giật lấy vòng tai bên trái của bà C1 nhưng không giật được. Lúc này, H điều khiển xe vượt lên trước đứng đợi còn T xuống xe đi bộ lại gần chỗ bà C1 đang đỗ xe rồi đi vòng ra phía sau bà C1 dùng tay dìm nón của bà C1 chùm vào mặt bà C1, sau đó dùng hai tay bóp mạnh vào hai bên sườn của bà C1 khiến bà C1 bị đau, T đưa tay định cướp vòng vàng bên trái thì bà C1 thả tay giữ ở xe làm xe đạp đổ ra đường. Bà C1 dùng tay kéo nón che kín tai bên trái, làm hở vòng tai vàng bên phải nên T đã dùng tay phải cầm vào vòng vàng ở tai bên phải của bà C1 rồi giật mạnh làm chiếc vòng tai vàng hình tròn tuột ra khỏi tai của bà C1. Bà C1 dùng hai tay ôm vào tay phải của T, kéo T lại thì T dùng lực của tay phải giật mạnh ra, làm tuột tay bà C1 ra khỏi tay T và ngã xuống đường. T định lấy tiếp chiếc vòng tai bên trái nhưng nhìn thấy có một người đàn ông đi xe mô tô hướng từ chợ về gần đến chỗ T nên T cúi người nhặt chiếc dép bị rơi trước đó ở cạnh bà C1 rồi bỏ chạy về phía H đang đứng đợi lên xe cùng H bỏ chạy về hướng xã T và rẽ phải sang hướng Cầu C. Sau khi bỏ chạy thoát, T cất vòng tai vàng vừa cướp được vào túi quần bên phải đang mặc rồi bảo H điều khiển xe đi về nhà H. Trên đường đi, T bảo H dừng xe lại để lắp biển số xe và cởi áo khoác ngoài ra, mặc áo cộc tay màu đen, T hỏi H “đường này có camera không” thì H bảo “có” nên cả hai liên tục đổi lái cho nhau để tránh sự phát hiện. Khi về đến nhà H khoảng 13 giờ cùng ngày, T bỏ chiếc vòng tai vàng ra cho H xem, T nghĩ trên đường lắp nhiều camera thì sẽ bị phát hiện nên bảo H đi trốn thì H đồng ý. Sau đó H gọi điện cho một người tên là T2, là bạn tù của T và H ở trại tạm giam Quyết Tiến, nhà ở Thái Bình. H lấy quần áo rồi điều khiển xe mô tô của T đi đến khu vực huyện S, Hà Nội thì đổi lái cho T. T lấy điện thoại di động ra truy cập vào Google map tìm đường đến Thái Bình và đi theo chỉ dẫn, khi qua khu vực Hà Nội, T đi vào một cửa hàng mua bán vàng bán chiếc khuyên tai được số tiền 4.000.000 đồng, số tiền này T chi cho H 2.000.000 đồng, số tiền còn lại T đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau đó T lái xe chở H đi xuống đến huyện T, tỉnh Thái Bình vào quán ăn tối rồi đi vào phòng trọ của T2 (bạn của H và T) và ngủ lại tại đây. Sáng ngày hôm sau, H bắt xe khách vào Thanh Hóa chơi nhưng không gặp được bạn nên ngày 05/4 2023 H đã bắt xe khách về Thái Nguyên. Đối với T, ngày 04/4/2023 sau khi thức đậy thì T điều khiển xe mô tô của T đi về Hà Nội bán chiếc xe mô tô cho một quán mua bán xe, T không biết địa chỉ và tên quán, rồi đi vào thành phố Hồ Chí Minh bỏ trốn.
Sau khi bị cướp tài sản, bà Lương Thị C1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P trình báo sự việc đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera an ninh để xác minh đối tượng và xác định được đối tượng nghi vấn là Nguyễn Đình H nên cơ quan điều tra đã triệu tập H đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, H khai nhận thực hiện hành vi cướp tài sản cùng với Hoàng Đức T.
Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Đình H, cơ quan điều tra đã triệu tập, xác minh và ra Quyết định truy tìm đối với Hoàng Đức T theo quy định. Đến ngày 05/7/2023, T đến Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đầu thú. Công an xã Đ đã bàn giao T cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P theo quy định.
Tại Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: “01 chiếc vòng đeo tai bằng vàng ta (vàng nguyên chất) 0,75 chỉ vàng thuộc sở hữu của bà Lương Thị C1 có màu vàng, hình tròn, có chế tác khóa luồn bên trong, không bị móp méo biến dạng hay mất chi tiết gì, bị cướp, tài sản hiện chưa thu hồi được, giá vàng khảo sát tại thời điểm tháng 4/2023 (5.500.000 đồng) có giá trị là 4.140.000 đồng”.
Quá trình điều tra, Hoàng Đức T và Nguyễn Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc vòng khuyên tai vàng là tài sản của bà Lương Thị C1 bị T và H cướp giật hiện cơ quan điều tra chưa thu hồi được do T và H không nhớ được địa chỉ cụ thể cửa hàng đã bán vàng. Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh đen, BKS: 88D1-458.42 là phương tiện mà T và H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, T đã bán cho một người đàn ông không quen biết tại khu vực Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng chưa thu hồi. Đối với 01 đôi dép có để bằng cao su màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu “HI”; 01 áo sơ mi màu trắng dài tay và 01 quần bò màu xanh, quần và áo đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy ký hiệu “H2”; 01 áo phông cộc tay màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu “H3”; 01 túi nilong màu xanh, bên trong có: 01 áo len dài tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu tím than, đã qua sử dụng; 01 quần cộc màu đen, đã qua sử dụng. Được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu "H4"; 01 hộp bìa giấy được niêm phong, ký hiệu “GN” bên trong có: 01 áo khoác màu đen, có sọc trắng, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi dài tay màu nâu, đã qua sử dụng; 01 quần bò màu ghi mặt sau cạp quần có gắn mác in chữ “B&B” đã qua sử dụng; 01 quần bò màu xanh bạc đã qua sử dụng, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/5/2023, Nguyễn Đình H đã tác động mẹ đẻ là bà Lưu Thị C tự nguyện bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho bà Lương Thị C1. Ngày 07/7/2023, Hoàng Đức T đã tác động mẹ đẻ là bà Lê Thị T1 tự nguyện bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho bà C1. Bà C1 đã nhận tổng số tiền 8.000.000 đồng trên, bà C1 không yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T và H.
Tại Bản cáo trạng số 109/CT-VKSPB, ngày 15-9-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo Hoàng Đức T và Nguyễn Đình H về tội “Cướp tài sản”, theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tự nguyện không có yêu cầu gì đối với các bị cáo về khoản tiền bồi thường cho bị hại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H phạm tội: “Cướp tài sản”.
- Áp dụng: Điểm h Khoản 2 Điều 168; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51, Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Đức T từ 08 – 09 năm tù. Bị cáo Nguyễn Đình H từ 08 – 09 năm tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc các bị cáo T và H đã bồi thường xong cho bị hại và bị hại tự nguyện không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác.
Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo với các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Bị hại vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị hại xác nhận các bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong, tự nguyện không đề nghị các bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại là bà Lương Thị C1 và người làm chứng. Hội đồng xét xử thấy, bị hại đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại và người làm chứng đều đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến giải quyết tính khách quan, toàn diện của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
[3] Về chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Ngoài ra, còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền để sử dụng chi tiêu cá nhân nên Hoàng Đức T và Nguyễn Đình H rủ nhau đi cướp tài sản. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, tại đường B thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, H điều khiển xe mô tô chở T đi theo sau xe bà C1, sau đó đi vượt lên trước rồi dừng xe lại, H đứng đợi còn T xuống xe đi bộ lại gần chỗ bà C1 đang đỗ xe, T đi vòng ra phía sau bà C1 và có hành vi dùng tay dìm nón chùm vào mặt bà C1 và dùng hai tay bóp mạnh vào hai bên sườn của bà C1 khiến bà C1 bị đau, sau đó T đã dùng tay phải cầm vào vòng vàng ở tai bên phải của bà C1 rồi giật mạnh làm chiếc vòng tai vàng hình tròn tuột ra khỏi tai của bà C1. Bà C1 dùng hai tay ôm vào tay phải của T, kéo T lại thì T dùng lực của tay phải giật mạnh ra, làm tuột tay bà C1 ra khỏi tay T và ngã xuống đường. T định lấy tiếp chiếc vòng tai bên trái nhưng nhìn thấy có một người đàn ông đi xe mô tô hướng từ chợ về gần đến chỗ T nên T bỏ chạy về phía H đang đứng đợi lên xe cùng H bỏ chạy. Tài sản mà T và H chiếm đoạt của bà C1 có giá trị 4.140.000 đồng.
[4] Các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức và biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật thế nhưng các bị cáo cố ý dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản của người khác. Trước thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản lần này, các bị cáo đã nhiều lần bị kết án. Đối với bị cáo T, tại bản án số 73/2014/HSST, ngày 26/12/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt bị cáo T 10 năm tù về tội Cướp giật tài sản, bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 30/9/2022. Đối với bị cáo H, tại bản án số 89/2015/HSST, ngày 16/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt bị cáo H 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 14/10/2022, tại các bản án này đều đã xác định các bị cáo tái phạm và đến thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này các bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi phạm tội lần này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
“Điều 168. Tội cướp tài sản.
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lầm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a)...
h) Tái phạm nguy hiểm...”
[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Mặc dù, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc, nhưng vai trò của các bị cáo trong vụ án khác nhau. Bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi nên có vai trò cao hơn so với bị cáo H trong vụ án.
[7] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo đều là đối tượng có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp ổn định, trước khi thực hiện hành vi cướp tài sản lần này các bị cáo đã nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật và đã bị xét xử kết tội bằng nhiều bản án. Thế nhưng, các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại lao vào con đường phạm tội, điều đó thể hiện các bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội Hội đồng xét xử xác định do bị cáo mắc nghiện ma túy, không chịu lao động để tạo ra thu nhập nên đã nảy sinh hành vi bất chấp chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân và mua ma túy sử dụng.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, các bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội ra đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét nhân thân, tính chất, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp
Đối với vật chứng gồm: 01 đôi dép có để bằng cao su màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu “HI”; 01 áo sơ mi màu trắng dài tay và 01 quần bò màu xanh, quần và áo đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy ký hiệu “H2”; 01 áo phông cộc tay màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu “H3”; 01 túi nilong màu xanh, bên trong có: 01 áo len dài tay màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu tím than, đã qua sử dụng; 01 quần cộc màu đen, đã qua sử dụng. Được niêm phong vào hộp bìa giấy, ký hiệu "H4"; 01 hộp bìa giấy được niêm phong, ký hiệu “GN” bên trong có: 01 áo khoác màu đen, có sọc trắng, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi dài tay màu nâu, đã qua sử dụng; 01 quần bò màu ghi mặt sau cạp quần có gắn mác in chữ “B&B” đã qua sử dụng; 01 quần bò màu xanh bạc đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[11]. Các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này còn có người đàn ông tên T2 (là bạn của T và H), nhà ở Thái Bình theo T và H khai sau khi cướp được khuyên tai vàng đã đến quán ăn đêm và ở phòng trọ của T2 để trốn. Tuy nhiên, T2 không biết việc T và H thực hiện hành vi cướp tài sản nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với T2. Đối với người đàn ông là chủ cửa hàng vàng nơi T và H bán tài sản cướp được, quá trình điều tra chưa xác định được người này là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với các bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[13] Về án phí: Các bị cáo T và H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
[14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng: Điểm h Khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- - Điều 46, 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H phạm tội “Cướp tài sản”.
- Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Hoàng Đức T 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06/7/2023.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 24/5/2023.
- Ra quyết định tạm giam các bị cáo Hoàng Đức T, Nguyễn Đình H với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) hộp bìa giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H1, niêm phong 01 đôi dép có đế bằng cao su màu đen, quai dép bằng da màu đen, phần đến có chữ “POLITE - ART”, quai dép có chữ “LOUISVUITON”, đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp bìa giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H2, niêm phong 01 áo sơ mi màu trắng dài tay, ở cổ áo có màu đen có chữ “TQQ VIET NAM” và 01 quần bò màu xanh, mặt sau quần có gắn mác màu vàng, in chữ “FASHION” quần và áo đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp bìa giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H3, niêm phong 01 áo phông cộc tay màu đen, cổ áo và ống tay áo có viền trắng, ở phía trước ngực áo bên trái có chữ “DIOR” đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp bìa giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu H4, niêm phong 01 túi nilong màu xanh, bên trong có: 01 áo len dài tay màu đen, áo có nhiều chữ “PZATU” đã qua sử dụng; 01 áo thun dài tay màu tím than, cổ áo có in chữ “CAMIPA” đã qua sử dụng; 01 quần cộc màu đen, phía sau có in chữ “DAZIO” đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp bìa giấy niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu GN, niêm phong 01 áo khoác màu đen, có sọc trắng ở cổ áo có gắn mác in chữ “BỦBERRY” đã qua sử dụng, 01 áo sơ mi dài tay màu nâu ở cổ áo có gắn mác in chữ “IT-IT”, đã qua sử dụng; 01 quần bò màu ghi mặt sau cạp quần có gắn mác in chữ “B&B” đã qua sử dụng; 01 quần bò màu xanh bạc đã qua sử dụng
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
- Về án phí: Các bị cáo Hoàng Đức T và Nguyễn Đình T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Thông báo quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy |
Bản án số 114/2023/HS-ST ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về cướp tài sản
- Số bản án: 114/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức Thành, Nguyễn Đình Hùng phạm tội “Cướp tài sản”.
