Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn, chia tài

sản chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Út;

2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước tham gia phiên tòa: Ông Phạm Chí Hiếu – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Chánh T, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.

Bị đơn: Bà Bùi Thị Bích L, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của nguyên đơn ông Trần Chánh T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Ông T và bà L tổ chức đám cưới năm 1994. Hôn nhân của vợ chồng ông là do mai mối, không có tìm hiểu nhau trước. Vợ chồng đăng ký kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 142 ngày 11/12/2002. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2016 hoặc 2017 thì không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân mâu thuẫn thời điểm đó ông T bị bệnh phải đi mổ ở bệnh viện, ông T có yêu cầu bà L đưa tiền đi trị bệnh thì bà L không đưa tiền cho ông T để trị bệnh, ông T nằm ở bệnh viện bà L không chăm sóc ông T chu đáo, quần áo không giặt, sau khi ông T về nhà thì ông T tự giặt đồ. Một lần khác, ông T bị gãy tay, ông T có yêu cầu bà L đưa tiền để đi bệnh viện, bà L không đưa, trong khi ông T không có tiền để đi bệnh viện. Khi mẹ ruột của ông T bị bệnh thì bà L không muốn chăm sóc mẹ chồng, ông T phải năn nỉ bà L mới chịu cho mẹ của ông T đến ở nhà của ông T để thuận tiện cho việc đi khám bệnh, do mẹ của ông T bị gãy xương bánh chè và nhà mẹ ruột của ông T ở trong đồng sâu, đi lại khó khăn. Ngoài ra vợ chồng ông T còn mâu thuẫn với nhau về kinh tế gia đình, nguồn gốc đất lúa vợ chồng canh tác là của gia đình ông T cho ông T trước khi cưới nhau, vợ chồng cùng làm ruộng chung nhưng khi thu hoạch lúa có lời thì bà L nói đó là tiền riêng của bà L. Mặc dù vợ chồng vẫn còn ở chung nhà, nhưng vợ chồng đã ly thân cách đây 03 năm, những lúc ông T muốn gần gũi với bà L thì bà L nói đừng làm phiền bà L. Mọi chi phí sinh hoạt đều sử dụng riêng, ăn cơm riêng, không ai quan tâm tới ai. Ông T đã nhiều lần năn nỉ bà L để làm hòa nhưng bà L vẫn lạnh nhạt với ông T. Ông T nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với bà L nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 19/11/1996 và Trần Thị Thanh V, sinh ngày 04/5/2005. Hai con chung đều đã trưởng thành, nên ông T không có yêu cầu gì đối với con chung.

Về tài sản chung: Nguồn gốc các thửa đất số 2378, 2212, 2042, cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An là của ông nội ông T cho lại cha ông T, khi cha ông T mất thì mẹ ông T cho ông T đứng tên các thửa đất. Trước khi ông T cưới bà L thì ông T đã được cấp đất rồi, ông T nhớ lại giấy đất lần đầu ông T được cấp là loại giấy nhỏ ngày xưa. Đến năm 1996, theo chủ trương của nhà nước ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 2378, 2212, 2042, 2373 vào ngày 08/10/1996, vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01194 QSDĐ/0403/LA. Sau đó, ông T có làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho các em của ông T và ông T làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất còn lại của ông T bao gồm các thửa đất số 2378, 2212, 2042 mà bà L đang tranh chấp với ông T. Hiện nay các thửa đất này đều do ông T đứng tên.

Về quá trình sử dụng đất, sau khi ông T và bà L cưới nhau thì vợ chồng cùng sinh sống trên thửa trên thửa đất số 2378 và cùng canh tác các thửa đất lúa cho đến nay. Mỗi năm làm được 02 vụ lúa, thu nhập từ việc làm lúa được sử dụng vào việc chi tiêu gia đình, nuôi con và lo cúng giỗ ông, bà. Bà L là người trực tiếp canh tác lúa, còn ông T có công việc khác là làm thợ hồ, khi ông T không có đi làm thì cùng bà L canh tác lúa.

Đối với căn nhà có trên thửa đất số 2378, trước khi cưới vợ là mẹ ông T cất cho ông T, ban đầu kết cấu là cột đà bê tông, mái lá, vách lá, nền đất. Sau khi ông T cưới vợ, vợ chồng ông T cùng sửa chữa xây dựng lại như hiện trạng hiện nay. Thời điểm vợ chồng ông T bắt đầu sửa chữa nhà lại là năm 2000. Trong thời gian vợ chồng ở trên thửa đất 2378 ngoài việc sửa chữa nhà thì vợ chồng ông T còn làm các công trình xây dựng khác gồm nhà bếp, nhà vệ sinh, hàng rào phía trước, hàng rào phía sau, trụ cổng, mái hiên bằng tole. Nguồn tiền để sửa chữa nhà và xây dựng các công trình phụ này là nguồn tiền chung của vợ chồng. Căn cứ vào mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 17/6/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K (gọi tắt Công ty K) thể hiện công trình xây dựng trên đất như sau: nhà chính được ký hiệu (1) và (2) có diện tích 82,1m², nhà bếp được ký hiệu (4) diện tích 11,3m², nhà vệ sinh được ký hiệu (5) và (6) có diện tích 3,5m², hiên nhà mái tole được ký hiệu (3) và (7) diện tích 28,5m². Ông T đồng ý chia ½ giá trị công trình xây dựng cho bà L gồm: nhà chính, nhà bếp, nhà vệ sinh, hàng rào và trụ cổng rào. Ông T yêu cầu Tòa án căn cứ yêu cầu căn cứ vào đơn giá xây dựng được thể hiện tại Chứng thư thẩm định giá số VC24/03/15/BĐS-LA ngày 29/3/2024 của Công ty Cổ phần T2 để xác định giá trị công trình xây dựng. Đối với hiên nhà mái tole được ông T làm vào dịp tết năm 2024 bằng tiền riêng của ông T với số tiền là 15.000.000 đồng, nên ông T không đồng ý chia giá trị hiên nhà cho bà L. Ông T yêu cầu được quản lý toàn bộ nhà cùng các vật công trình kiến trúc khác trên đất và không đồng ý chia thửa đất số 2378, cũng không đồng ý chia giá trị thửa đất số 2378 cho bà L, vì thửa đất 2378 là đất của ông, bà bên gia đình của ông T để lại cho ông T chứ không phải của vợ chồng tự tạo lập được. H nằm ông T còn phải lo giỗ cho ông, bà là đất hương hỏa gia đình.

Đối với thửa đất số 2212, 2042, loại đất LUC, nguồn gốc đất cũng là của bên gia đình ông T, tuy nhiên ông T đồng ý chia cho bà L 1000m², thuộc thửa đất số 2024 được thể hiện tại vị trí E1 Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 17/5/2024 của Công ty TNHH K1 Sông Tiền về phân khu thửa đất số 2042. Ngoài ra, ông T không đồng ý chia cho bà L tài sản nào khác.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Bùi Thị Bích L trình bày:

Về thời điểm bắt đầu chung sống, quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn về con chung, nợ chung, bà L thống nhất. Về nguyên nhân mâu thuẫn, bà L không đồng ý với lời trình bày của ông T. Thời điểm ông T đi mổ, ông T có nói đi mổ bảo hiểm y tế là 2.000.000 đồng, ông T có 2.000.000 đồng, bà L có nói là đi mổ bảo hiểm y tế cũng được, bà L không có tiền để đưa thêm cho ông T vì thời điểm đó gia đình còn rất khó khăn nhưng bà L có đi nuôi bệnh cho ông T. Khi mẹ chồng bệnh, là do vợ chồng em trai út của ông T không muốn nuôi nên đưa lên cho vợ chồng bà L nuôi, nhưng hoàn cảnh gia đình của bà L còn khó khăn nên có nói là mẹ chồng lên ở chung thì điều kiện kinh tế của bà L như thế nào thì bà L nuôi mẹ chồng theo khả năng của bà L. Nhưng khi mẹ chồng ở với vợ chồng bà L thì mẹ chồng quá khó khăn với bà L nên mẹ chồng về ở lại với người em trai út chứ không phải bà L không muốn nuôi. Trong khi đó, khi bà L đi mổ ruột thừa, ông T cũng không lo tiền chi phí phẫu thuật cho bà L, bà L phải tự lo chi phí, sau khi xuất viện, bà L còn đau, nhưng phải tự nấu cơm, giặt giũ quần áo, khi vết mổ chưa lành mà ông T muốn sinh hoạt vợ chồng nên bà L mới không đồng ý. Vợ chồng bà L còn có mâu thuẫn về kinh tế gia đình, các chi phí sinh hoạt gia đình, bà L phải tự lo, khi bà L yêu cầu ông T đưa tiền sinh hoạt gia đình, ông T có đưa nhưng sau đó ông T kiếm chuyện gây gỗ với bà L kêu bà L trả tiền lại. Theo bà L mâu thuẫn gia đình là cũng có lỗi từ phía ông T. Ông T yêu cầu ly hôn thì bà L đồng ý ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 19/11/1996 đã thành niên và Trần Thị Thanh V, sinh ngày 04/5/2005, hai con chung đều đã trưởng thành, nên bà L không có yêu cầu gì đối với con chung.

Về tài sản chung: Bà L giữ nguyên cầu chia tài sản với ông T, bà L yêu cầu chia đôi tài sản chung là thửa đất số 2378, 2212, 2042, cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An và căn nhà, các công trình vật kiến trúc khác nằm trên thửa đất số 2378.

L thống nhất với lời trình bày của ông T về nguồn gốc các thửa đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, từ khi bà L về làm vợ ông T từ năm 1994 cho đến nay, bà L cùng với ông T đều sinh sống trên thửa đất số 2378 và bà L là người trực tiếp canh tác phần đất lúa, ông T không có phụ bà L làm ruộng. Thu nhập từ việc làm lúa, bà L sử dụng cho việc chi tiêu trong gia đình.

Đối với căn nhà trên thửa đất thổ, khi bà L mới về ở trên đất thì căn nhà chỉ có 04 cây cột, mái lá, vách lá, nền đất, các công trình phụ chưa có. Sau khi bà L về ở cùng ông T, bà L mới xây dựng lại nhà như hiện nay và làm dần dần trong nhiều năm. Nhưng bà xác định thời điểm xây dựng nhà năm 2000, các công trình phụ như hàng rào, cổng rào, trụ cổng thì làm khoảng năm 2006.

Căn cứ Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 17/6/2024 của Công ty K Tiền đối với thửa đất số 2378, loại đất ONT, bà L yêu cầu được bằng hiện vật là quyền sử dụng đất tại Khu B, diện tích 343,5m² và bà L yêu cầu được quản lý sử dụng các công trình xây dựng Khu B bao gồm một phần hàng rào trước diện tích 12,186m²; hàng phía sau diện tích 15,371m²; 01 trụ cổng; một phần diện tích nhà chính ký hiệu (2) là 5,5m²; một phần nhà vệ sinh ký hiệu (5) diện tích 2,5m²; một phần hiên nhà bằng tole ký hiệu (3) diện tích 11,8m². Bà L đồng ý giao cho ông T khu A, diện tích 308m² cùng công trình xây dựng có trên khu A gồm: một phần nhà chính ký hiệu (1) diện tích 76,6m²; nhà bếp ký hiệu (4) diện tích 11,3m²; một phần nhà vệ sinh ký hiệu (6) diện tích 01m², một phần hiên nhà mái tole ký hiệu (7) diện tích 16,7m², hàng rào phía trước diện tích 12,186m², cổng rào, 01 trụ cổng, hàng rào phía sau diện tích 15, 371m². Bà L yêu cầu ông T hoàn lại giá trị căn nhà và công trình xây dựng khác cho bà L. Đối với các công trình xây dựng trên Khu B, bà L yêu cầu là trừ vào giá trị công trình xây dựng mà ông T có trách nhiệm hoàn lại cho bà L. Sau khi trừ xong ông T phải thanh toán phần giá trị công trình xây dựng cho bà L. Ngoài ra trên khu B còn có 01 bụi tre, 03 cây dừa, 01 cây xoài, 02 hồ tròn chứa nước, 01 phuy nước, 01 chuồng gà, trên khu A có 03 cây xoài, 01 bụi tre, 02 cây tràm, các đương sự không yêu cầu định giá cây trồng và các tài sản này, trường hợp ai được nhận đất thì được sử dụng luôn cây trồng, hồ tròn chứa và phuy nước. Đối với mái hiên bằng tole, bà L cũng xác định mái hiên này ông T làm vào thời điểm tết năm 2024 và làm bằng tiền riêng của ông T, nên bà L không yêu cầu chia đối với phần mái hiên bằng tole này.

Đối với thửa đất số 2212, loại đất trồng lúa, diện tích đo đạc thực tế 866,1m², bà L đồng ý giao thửa đất số 2212 cho ông T, bà L yêu cầu ông T hoàn lại cho bà L ½ giá trị thửa đất số 2212, tương ứng với số tiền 1.340.553.060 đồng. Đối với thửa đất 2042, loại đất trồng lúa, diện tích đo đạc thực tế 3994,9m², bà L yêu cầu nhận hiện vật bằng quyền sử dụng đất tương ứng với vị trí E và E1, diện tích 1997,5m2, giao cho ông T vị trí D, diện tích 1997,4m² theo Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 03/01/2024 của Công ty K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/01/2024 và Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 17/5/2024 của Công ty K về phân khu thửa đất số 2042;

Về nợ chung: Không có.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ theo quy định tại các Điều 35, 39, 97, 98, 195, 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận ông Trần Chánh T thuận tình ly hôn với bà Bùi Thị Bích L.

Về con chung: con chung đã thành niên, đủ khả năng lao động chăm sóc bản thân, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Bích L tranh chấp với ông Trần Chánh T các thửa đất số 2378, 2212, 2042 cùng tờ bản đồ số 04 cùng tọa lạc tại Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An có nguồn gốc là của ông nội ông T cho lại cho cha của ông T. Khi cha ông T chết thì mẹ ông T cho ông T đứng tên. Trước khi cưới bà L thì ông T đã được cấp giấy rồi. Năm 1996 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số 2378, 2212, 2042, 2373 và ngày 08/10/1996, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01194 QSDĐ/0403/LA. Sau đó ông T có làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho em của mình và làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất còn lại của ông T bao gồm 2378, 2212, 2042. Quá trình giải quyết vụ án bà Bùi Thị Bích L cũng thừa nhận các thửa đất bà tranh chấp với ông T có nguồn gốc từ gia đình ông T cho. Tuy nhiên ông T và bà L cưới nhau năm 1994, sau khi cưới nhau ông T và bà L cùng sinh sống trên thửa đất 2378, cùng canh tác trên thửa đất lúa 2212, 2042. Việc ông T giao cho bà L quản lý sử dụng các thửa đất trên thể hiện ý chí ông T xem đây là khối tài sản chung của hai vợ chồng, muốn vợ chồng cùng quản lý, cùng sử dụng nhằm mục đích tạo ra nguồn thu nhập chăm lo cho gia đình. Nên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật HNGĐ.

Xét về công sức đóng góp, ông T có công sức đóng góp nhiều hơn, tài sản có được từ tài sản riêng của ông T, nên ông T sẽ nhận được phần tài sản nhiều hơn. Tuy nhiên trong thời gian chung sống với nhau bà L cũng có công sức đóng góp, phụ giúp ông T trong việc nuôi dưỡng con cái, làm ruộng, sửa chữa nhà ở và xây dựng các công trình phụ trợ, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản. Vì vậy với yêu cầu chia tài sản chung cần chia theo tỷ lệ cụ thể:

- Đối với thửa đất số 2378 tờ bản đồ số 04 loại đất ở nông thôn: Bà Bùi Thị Bích L yêu cầu chia đôi, bà L nhận hiện vật là quyền sử dụng đất tại khu B, diện tích 345,5m² ông T phải tháo dỡ 01 phần căn nhà chính và 01 phần nhà vệ sinh để giao đất cho bà L. Xét thấy ông T không muốn chia thửa đất 2378 cho bà L và mâu thuẫn giữa ông T và bà L đã trầm trọng, ngoài ra việc tách khu đất dẫn đến việc phải đập 1 phần nhà chính làm mất đi công năng của ngôi nhà. Hơn nữa thửa đất 2378 là đất hương hỏa của gia đình ông T, xét về công sức đóng góp thì ông T có công sức đóng góp nhiều hơn. Nên chia cho ông T 2/3 giá trị quyền sử dụng đất, bà L 1/3 giá trị quyền sử dụng đất là phù hợp, giao thửa đất 2378 cho ông T quản lý sử dụng, ông T có trách nhiệm thanh toán cho bà L 1/3 giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất 2378, tờ bản đồ số 4, loại đất ở nông thôn.

- Đối với thửa đất 2212, 2042 cùng tờ bản đồ số 04, loại đất lúa bà L yêu cầu giao thửa 2212 cho ông T, bà L yêu cầu ông T hoàn lại cho bà L ½ giá trị thửa đất số 2212 tương ứng với số tiền 1.340.553.060 đồng. Đối với thửa đất 2042 bà yêu cầu nhận hiện vật quyền sử dụng đất tương ứng vị trí khu E diện tích 1997,5m², giao cho ông T vị trí khu D, diện tích 1997,4m². Nhận thấy đây là phần tài sản có được từ phần tài sản riêng của ông T, xét về công sức đóng góp, tôn tạo thì cần chia theo tỷ lệ ông T 2/3 giá trị, bà L 1/3 giá trị các thửa đất 2212, 2042 là phù hợp. Theo chứng thư thẩm định giá thửa đất 2212, 2042 có giá trị là 5.413.617.720 đồng. Bà L được chia 1/3 giá trị = 1.804.539.240 đồng. Bà liên yêu cầu nhận vị trí Khu E diện tích 1997,5m² thuộc 1 phần thửa đất số 2042 có giá trị 1.366.290.000 đồng, nên chia 1 phần thửa 2042 có vị trí tại Khu E cho bà L, ông T tiếp tục thanh toán cho bà L số tiền 438.249.240 đồng. Giao cho ông thuận quản lý thửa đất số 2212 và 1 phần thửa đất số 2042 thuộc vị trí Khu D.

- Đối với căn nhà và các công trình phụ trợ trên thửa đất 2378 có giá trị theo chứng thư thẩm định giá là 262.356.000 đồng. Nhận thấy đây là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên chia tỷ lệ ½ giá trị căn nhà cho ông T và ½ giá trị căn nhà và công trình phụ trợ cho bà L là phù hợp. Do công trình gắn liền với thửa đất 2378, nên giao cho ông T căn nhà quản lý sử dụng, ông T hoàn lại ½ giá trị căn nhà và công trình phụ trợ cho bà L cụ thể số tiền 131.178.000.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà L, chia cho bà L phần đất thuộc vị trí Khu E diện tích 1997.5m² thuộc một phần thửa đất số 2042 và số tiền 438.249.240 đồng; 1/3 giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất 2378, ½ giá trị căn nhà và công trình phụ trợ gắn liền với thửa đất số 2378.

Về nợ chung: Không có, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Ông Trần Chánh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Bùi Thị Bích L. Bà liên có nơi cư trú tại ấp D, xã P, huyện C, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Ông Trần Chánh T yêu cầu ly hôn với bà Bùi Thị Bích L, bà Bùi Thị Bích L có đơn yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn với ông Trần Chánh T nên xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Chánh T và bà Bùi Thị Bích L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 142/2002 ngày 11/12/2002 nên xác định hôn nhân của vợ chồng ông là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại các biên bản hòa giải ngày 16/5/2024 và ngày 04/7/2024, ông T và bà L trình bày không thống nhất nhau về mâu thuẫn gia đình, ông T cho rằng bà L là người có lỗi, trong khi đó bà L cũng trình bày ông T là người có một phần lỗi trong việc để xảy ra mâu thuẫn gia đình. Ông T yêu cầu ly hôn thì bà L cũng đồng ý ly hôn. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà L không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông T và bà L.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 19/11/1996 đã thành niên và Trần Thị Thanh V, sinh ngày 04/5/2005, đều đã trưởng thành. Ông T và bà L không có yêu cầu gì đối với con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Bích L yêu cầu chia tài sản với ông Trần Chánh T, bà L yêu cầu chia đôi tài sản chung là thửa đất số 2378, 2212, 2042, cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An và các công trình xây dựng trên thửa đất 2378. Bà L yêu cầu được nhận bằng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 2378 tại Khu B, diện tích 343,5m², các công trình xây dựng Khu B bao gồm một phần hàng rào trước diện tích 12,186m2,01; hàng phía sau, 15,371m2, 01 trụ cổng, một phần diện tích nhà chính ký hiệu (2) là 5,5m2, một phần nhà vệ sinh ký hiệu (5) diện tích 2,5m2, một phần hiên nhà bằng tole ký hiệu (3) diện tích 11,8m²; quyền sử dụng đất tương ứng với vị trí E và E1, diện tích 1997,5m2, giao cho ông T vị trí D, diện tích 1997,4m² và ½ giá trị thửa đất số 2212, tương ứng với số tiền 1.340.553.060 đồng.

[3.1] Ông TL cưới nhau năm 1994 nhưng đến ngày 11/12/2002, ông T, bà L mới tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên xác định thời kì hôn nhân của ông T, bà L được tính từ ngày 11/12/2022.

[3.2] Về nguồn gốc các thửa đất số 2378, 2212, 2042, cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An, cả ông T và bà L đều thống nhất xác định các thửa đất này đều có nguồn gốc từ bên gia đình ông T để lại. Theo lời trình bày của ông T, ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ trước khi cưới bà L, mặc dù ông T không cấp được giấy tờ đất đai trước đây nhưng căn cứ theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số thửa đất số 2378, 2212, 2042 theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 678540, CH 678539, CH 678538 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cùng ngày 13/02/2017 thì các thửa đất này đều được cấp đổi từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 566151 số vào sổ cấp giấy 01194 ngày 08/10/1996 mang tên ông Trần Chánh T nên có căn cứ xác định các thửa đất này ông T có được trước thời kì hôn nhân của ông T và bà L.

[3.3] Quá trình quản lý sử dụng tài sản:

Ông T và bà L đều xác định sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng sinh sống trên thửa đất số 2378 và cùng canh tác các thửa đất lúa, bà L là canh tác chính, còn ông T có công việc khác là làm thợ hồ, khi không có việc làm thì ông T phụ bà L canh tác lúa. Ông T và bà L cũng thống nhất xác định nguồn thu nhập có được từ việc canh tác lúa được sử dụng vì mục đích chung của gia đình. Đối với căn nhà chinh và các công trình xây dựng khác trên thửa đất số 2378, ông T và bà L cũng thống nhất xác định trong thời gian vợ chồng chung sống với nhau đã cùng nhau sửa chữa nhà lại, làm hàng rào, cổng rào, nhà bếp, nhà vệ sinh bằng nguồn thu nhập của vợ chồng. Như vậy, có căn cứ để xác định về mặt ý chí ông T đã xem đây là tài sản chung của vợ chồng.

[3.3] Xét công sức đóng góp của ông T, bà L trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung:

Căn cứ vào những nội dung được phân tích tại mục [3.1] và [3.2], Hội đồng xét xử xét thấy ông T có công sức đóng góp nhiều hơn trong việc hình thành nên tài sản chung của vợ chồng, tài sản được có được từ tài sản của ông T có trước thời kì hôn nhân của ông T và bà L. Nhưng bà L cũng có công sức đóng khi từ khi về làm vợ ông T thì bà L là người canh tác chính trong khoảng thời gian năm 1994 cho đến nay, là một khoảng thời gian dài. Hơn nữa thu thập từ việc canh tác lúa được sử dụng vào mục đích chung của gia đình. Vì vậy việc yêu cầu chia tài sản của bà L là có căn cứ nhưng do ông T là người có công sức đóng góp nhiều hơn nên ông T được chia tài sản nhiều hơn.

Căn cứ theo chứng thư thẩm định giá số Vc 24/03/15BĐS-LA ngày 29/3/2024 của Công ty T2, giá trị tài sản được xác định như sau:

- Giá trị quyền sử dụng đất các thửa đất số 2378, loại đất ONT, trị giá 10.679.455.600 đồng, chia cho ông T 2/3 giá trị thửa đất 2378, tương ứng số tiền 7.119.637.067 đồng, chia cho bà L 1/3 giá trị thửa đất số 2378, tương ứng với số tiền 3.559.818.533 đồng.

- Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất 2212, 2042, loại đất LUC là: 5.413.617.720 đồng, chia cho ông T 2/3 giá trị thửa đất lúa, tương ứng với số tiền 3.609.078.480 đồng, chia cho bà L 1/3 giá trị quyền sử dụng đất, tương ứng với số tiền 1.804.539.240 đồng

Giá trị công trình xây dựng trên đất: Qua kiểm tra hiện trạng công trình xây dựng trên đất theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2024 và Mảnh trích đo địa chính số 04/TC- 2024 ngày 17/6/2024 của Công ty K thì có sự chênh lệch về diện tích căn nhà chính và nhà vệ sinh nhưng diện tích chênh lệch không lớn và đương sự đồng ý căn cứ vào đơn giá xây dựng thể hiện tại chứng thư nêu trên nên giá trị công xây dựng được xác định như sau:

  • Nhà chính: 82,1m² x 5.015.920 x 54%= 222.375.797 đồng;
  • Nhà vệ sinh: 3,5m2 x 5.118.286 x 54% = 9.673.561 đồng.
  • Nhà bếp: 18.293.979 đồng.
  • Hàng rào phía trước: 7.975.404 đồng
  • Hàng rào phía sau: 7.640.251 đồng.
  • Trụ cổng: 497.812 đồng
  • Cổng rào: 498.401 đồng.

Tổng giá trị công trình xây dựng trên đất là 266.955.205 đồng. Ông T và bà L cùng xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng đã cùng nhau tôn tạo tu sửa nhà chính và làm thêm các công trình vật kiến trúc khác bằng thu nhập chung của vợ chồng nên giá trị công trình xây dựng trên đất được chia đều cho ông T và bà L, tương ứng với số tiền 133.477.602 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản ông T được chia là 10.862.193.149 đồng, tổng giá trị tài sản bà L được chia là 5.497.835.376 đồng.

[3.4] Đối với yêu cầu nhận hiện vật là quyền sử dụng đất tại Khu B, diện tích 343,m², thuộc một phần thửa đất số 2378 cùng các công trình vật kiến trúc khác có trên đất; Khu E và E1, diện tích 1997,5m², thuộc một phần thửa đất số 2042.

Hội đồng xét xử xét thấy, vị trí căn nhà chính của ông TL có vị trí nằm trên cả Khu A là 76,6m² và Khu B là 5,5m², nhà vệ sinh cũng nằm trên cả khu A là 2,5m² và Khu B là 01 m² nên việc tách khu đất và nhà và các công trình kiến trúc khác, bà L yêu cầu nhận phần công trình xây dựng bao gồm 01 phần nhà chính, 01 phần nhà vệ sinh và công trình kiến trúc khác gắn liền với Khu B là không khả khả thi, đồng thời, ông T không đồng ý để cho bà L ở trên phần đất này, mâu thuẫn giữa ông và bà L đã trầm trọng nên trong trường hợp giao đất cho bà Liên khu đất có thể xảy ra xung đột trong quá trình quản lý tài sản. Vì vậy, cần giao toàn bộ thửa đất và nhà chính, nhà bếp, nhà vệ sinh, công trình vật kiến trúc khác có trên thửa đất 2378 cho ông T.

Còn đối với thửa đất 2042, Hội đồng xét xử từ khi bà L về chung sống với ông T thì bà L là người canh tác lúa chính trong gia đình và khi ly hôn bà L cũng có nhu cầu tiếp tục được canh tác đất nông nghiệp, yêu cầu này của bà L là phù hợp với Điều 68 Luật hôn nhân gia đình và cũng nhằm để bà L có nguồn tư liệu sản xuất để ổn định cuộc sống sau khi ly hôn nên cần chấp yêu cầu của bà L, chia cho bà L diện tích 1997,5m², thuộc thửa đất số 2042, trị giá 1.366.290.000 đồng.

Như vậy, phần tài sản bà L được nhận bằng quyền sử dụng đất chưa đủ với giá trị tài sản bà L được chia, nên ông T phải có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị chênh lệch cho bà L là 4.131.545.376 đồng.

Từ những nội dung được phân tích các mục [3.1], [3.2], [3.] và [3.4], Hội đồng xét xử xác định tài sản chung trong thời kì hôn nhân của ông T và bà L bao gồm: thửa đất số 2378, 2212, 2042, cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An và nhà chính được ký hiệu (1) và (2) có diện tích 82,1m², nhà bếp được ký hiệu (4) diện tích 11,3m², nhà vệ sinh được ký hiệu (5) và (6) có diện tích 3,5m², hàng rào phía trước, hàng rào phía sau, trụ cổng rào, cổng rào nằm trên thửa đất số 2378. Việc phân chia tài sản cụ thể như sau: Chia cho ông T thửa đất số 2378, diện tích đo đạc thực tế 652,3m²; thửa đất số 2212, diện tích đo đạc thực tế 866,1m²; thửa đất số 2042 (mpt), diện tích 1997,4m² tại Khu D mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 Công ty K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/01/2024, cùng với nhà chính được ký hiệu (1) và (2) có diện tích 82,1m², nhà bếp được ký hiệu (4) diện tích 11,3m², nhà vệ sinh được ký hiệu (5) và (6) có diện tích 3,5m², hàng rào phía trước, hàng rào phía sau, trụ cổng rào, cổng rào nằm trên thửa đất số 2378; Chia cho bà L thửa đất số 2042 (mpt), diện tích 1997,5m2 tại Khu E mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 Công ty K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/01/2024, trị giá 1.366.290.000 đồng; ½ giá trị căn nhà chính, nhà vệ sinh, nhà bếp và công trình phụ tương ứng với số tiền 133.477.602 đồng và ông T có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị chênh lệch cho bà L là do ông T được nhận tài sản bằng hiện vật nhiều hơn tương ứng số tiền 4.131.545.376 đồng.

[4] Đối với phần mái hiên bằng tole: Cả ông T và bà L đều xác định mái hiên bằng tole được ông T làm vào tết 2024 và bằng tiền riêng của ông T, các bên không tranh chấp với phần mái hiên này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Quyền lưu cư: Do bà L có khó khăn về chỗ ở nên căn cứ Điều 63 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử cho bà G được quyền lưu cư 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về chi phí tố tụng: 72.600.000 đồng. Ông Trần Chánh T nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 2.400.000 đồng, bà Bùi Thị Bích L nộp chi phí tố tụng là 70.200.000 đồng. Ông T phải chịu chi phí tố tụng là 47.916.000 đồng. Bà L phải chịu chi phí tố tụng là 24.684.000 đồng. Ông T có trách nhiệm hoàn lại chi phí tố tụng cho bà L là 45.516.000 đồng.

[9] Về án phí: Ông T, bà L phải chịu án phí ly hôn và án phí chia tài sản theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 55, Điều 62, Điều 63, Điều 64Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Trần Chánh T và bà Bùi Thị Bích L.

2. Về tài sản chung:

Xác định tài sản chung trong thời kì hôn nhân của ông Trần Chánh T và bà Bùi Thị Bích L1 bao gồm: thửa đất số 2378, loại đất ONT, diện tích đo đạc thực tế 652,3m²; Thửa đất số 2212, loại đất LUC, diện tích đo đạc thực tế 866.1m2; Thửa đất số 2042, diện tích đo đạc thực tế 3994,4m², cùng tờ bản đồ 04, cùng tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An, trị giá 16.093.073.000 đồng; căn nhà chính, nhà vệ sinh, nhà bếp và các công trình phụ nằm trên thửa đất số 2378, trị giá đồng; số tiền 266.952.204 đồng. Tổng giá trị tài sản chung trong thời kì hôn nhân là 16.360.028.525 đồng, cụ thể như sau:

2.1 Chia bà Bùi Thị Bích L 1/3 giá trị quyền sử dụng đất đối với loại đất ONT tương ứng với số tiền 3.559.818.533 đồng, chia cho bà L 1/3 giá trị quyền sử dụng đất, tương ứng với số tiền 1.804.539.240 đồng; ½ giá trị giá trị căn nhà chính, nhà vệ sinh, nhà bếp và công trình phụ 133.476.102 đồng. Tổng giá trị tài sản bà Bùi Thị Bích L được chia là 5.497.835.376 đồng.

cho bà Bùi Thị Bích L được quyền quản lý sử dụng phần đất có diện tích 1997,5m², thuộc thửa đất số 2042m², loại đất LUC, tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 03/01/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất tại huyện C duyệt ngày 08/01/2024 và M trích đo địa chính phân khu số 04/TC-2024 ngày 17/6/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K, trị giá 1.366.290.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 59/01/03/2023/TĐGLA-BĐS ngày 01/3/2023 của Công ty Cổ phần T3; 1/3 giá trị thửa đất số 2378 tương ứng với số tiền 3.559.818.533 đồng; ½ tương ứng với số tiền

2.2 C cho ông Trần Chánh T 2/3 giá trị quyền sử dụng đất đối với loại đất ONT tương ứng với số tiền 7.119.637.067 đồng; 2/3 giá trị quyền sử dụng đất đối với loại đất LUC, tương ứng với số tiền 3.609.078.480 đồng; ½ ½ giá trị giá trị căn nhà chính, nhà vệ sinh, nhà bếp và công trình phụ 133.476.102 đồng. Tổng giá trị tài sản ông Trần Chánh T được chia là 10.862.193.149 đồng.

Giao cho ông Trần Chánh T được quyền quản lý sử dụng các tài sản sau: thửa đất số 2378, loại đất ONT, diện tích đo đạc thực tế 652,3m²; Thửa đất số 2212, loại đất LUC, diện tích đo đạc thực tế 866.1m², và thửa đất số 2042 (mpt), loại đất LUC, diện tích 1997,4m2, tọa lạc ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An và Mảnh trích đo địa chính số 04/TC-2024 ngày 03/01/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất tại huyện C duyệt ngày 08/01/2024 và M trích đo địa chính phân khu số 04/TC-2024 ngày 17/6/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn K; nhà chính được ký hiệu (1) và (2) có diện tích 82,1m², nhà bếp được ký hiệu (4) diện tích 11,3m², nhà vệ sinh được ký hiệu (5) và (6) có diện tích 3,5m², hiên nhà mái tole được ký hiệu (3) và (7) diện tích 28,5m², hàng rào, trụ cổng rào, cổng rào.

2.3 Ông Trần Chánh T có trách nhiệm hoàn lại giá trị công trình xây dựng trên đất cho bà Bùi Thị Bích L là 133.477.602 đồng và giá trị chênh lệch do nhận hiện vật nhiều hơn là 4.131.545.376 đồng.

2.4 Đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) đối với các thửa đất được chia.

Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

Cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động, thu hồi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Về chi phí tố tụng: 72.600.000 đồng. Ông Trần Chánh T nộp tạm ứng chi phí tố tụng là 2.400.000 đồng, bà Bùi Thị Bích L nộp chi phí tố tụng là 70.200.000 đồng. Ông Trần Chánh T phải chịu chi phí tố tụng là 47.916.000 đồng. Bà Bùi Thị Bích L phải chịu chi phí tố tụng là 24.684.000 đồng. Ông Trần Chánh T có trách nhiệm hoàn lại chi phí tố tụng cho bà L là 45.516.000 đồng.

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

5. Về án phí: Ông Trần Chánh T chịu 75.000 đồng án phí thuận tình ly hôn và 118.862.193 đồng án phí chia tài sản chung. Bà Bùi Thị Bích L phải chịu 75.000 đồng án phí thuận tình ly hôn và 113.497.835 đồng. Ông Trần Chánh T đã nộp tạm ứng án là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004946 ngày 07/02/2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, được chuyển sang án phí, ông Trần Chánh T còn phải tiếp tục nộp án phí là 118.637.193 đồng. Bà Bùi Thị Bích L đã nộp tạm ứng án phí là 31.477.838 đồng theo biên lai thu số 0005152 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, được chuyển sang án phí, bà L còn phải tiếp tục nộp án phí là 82.094.997 đồng.

6. Bản án sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Long An;
  • VKSND huyện Cần Đước;
  • THADS huyện Cần Đước;
  • Uỷ ban nhân dân xã Phước Vân;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Võ Thu Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Trần Chánh T ly hôn, chia tài sản với bà Bùi Thị Bích Liên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger