|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 24-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Khanh; Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn (địa chỉ: số I đường Q, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/HSST-QĐ ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:
Lê Ngọc S; sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ thường trú: E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: 58/1X1 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ú; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/3/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 143/QĐ-TA, đến ngày 18/2/2022 chấp hành xong; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023 đến nay. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Ngọc S là đối tượng nghiện ma túy không có nghề nghiệp nên nảy sinh ý định bán trái phép chất ma túy cho người nghiện để kiếm lời. Ngày 29/04/2023, tại trước khu vực trường tiểu học N1 thuộc phường T, Quận A, S mua của một người phụ nữ tên Q (không rõ lai lịch) 8.000.000 đồng ma túy đá (khoảng 124 số, tương đương 12,4g) gồm: 01 bịch ma túy đá 50 số, 02 bịch ma túy đá 25 số, 04 bịch ma túy đá 05 số, 01 bịch ma túy đá 04 số, 01 cân tiểu ly, 05 cây nỏ thủy tinh, một số bịch nylon và ống hút không chứa gì. Sau đó, S đem về nhà tại nhà số E ấp Đ, xã B, huyện H, Tp. phân 01 bịch ma túy đá 50 số thành 02 bịch ma túy đá 25 số. S đã sử dụng hết 01 bịch ma túy đá 25 số, bán cho người nghiện 03 bịch ma túy đá 05 số với giá 300.000 đồng/01 bịch trong đó vào ngày 25/06/2023, S bán cho Nguyễn Thị Mỹ L (là người nghiện) 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Số ma túy và dụng cụ sử dụng, dụng cụ phân ma túy đá S để ở góc tường dưới sàn nhà tầng 1. Lúc 19 giờ 45 phút ngày 27/6/2023, tổ công tác Công an xã B, huyện H tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà số E ấp Đ, xã B, huyện H, Tp. có mặt Lê Ngọc S và Đặng Cẩm N (bạn gái S). Do sợ bị phát hiện nên S lấy số ma túy còn lại (03 bịch 25 số, 01 bịch 5 số, 01 bịch 4 số - tổng khoảng 84 số) cho vào bao thuốc lá hiệu Jet rồi cất giấu vào ngăn đông tủ lạnh. Khi Công an kiểm tra phát hiện trong góc tường dưới sàn nhà tầng 1 có 01 cân tiểu ly, 01 điện thoại di động, một số gói nylon không chứa gì, một số ống hút không chứa gì và 04 ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì, 01 bình nhựa có nắp đậy, trên nắp gắn 01 ống hút nhựa và ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì. Lúc này, S tự lấy từ trong ngăn đá của tủ lạnh ra giao nộp 01 gói thuốc lá hiệu JET bên trong có 05 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m1, m2).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Lê Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đặng Cẩm N là bạn gái sống chung với S, không biết, không phụ giúp và không tham gia cùng S trong việc mua bán ma tuý, không sử dụng ma tuý chung với S.
Kết luận giám định số 7004/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K Công an T1 kết luận:
- + 02 gói nylon chứa tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,9025g, loại Methamphetamine.
- + 03 gói nylon chứa tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,0431g, loại Methamphetamine. Vật chứng thu giữ:
- - 01 gói niêm phong số vụ: 1427/23 (7004).
- - 01 gói thuốc lá hiệu Jet, 01 cân tiểu ly. Một số gói ny lon không chứa gì. Một số ống hút nhựa không chứa gì. 04 (bốn) ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì.01 (một) bình nhựa có nắp đậy, trên nắp gắn 01 ống hút nhựa và ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo.
Đối với người bán ma túy cho S, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Đặng Cẩm N, Nguyễn Thị Mỹ L không phát hiện thu giữ ma tuý, không chứng minh được vai trò đồng phạm với Lê Ngọc S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã giao Đặng Cẩm N và Nguyễn Thị Mỹ L cho Công an xã B, H xử lý hành chính.
Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-HS ngày 23/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo S có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Ngọc S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
Đối với người bán ma túy cho S, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với Đặng Cẩm N, Nguyễn Thị Mỹ L không thu giữ ma tuý, không chứng minh được vai trò đồng phạm với Lê Ngọc S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã giao Đặng Cẩm N và Nguyễn Thị Mỹ L cho Công an xã B, H xử lý hành chính đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số vụ 1427/23 (7004); 01 gói thuốc lá hiệu Jet; 01 cân tiểu ly; một số gói nylon không chứa gì; Một số ống hút nhựa không chứa gì; 04 (bốn) ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì; 01 (một) bình; nhựa có nắp đậy, trên nắp gắn 01 ống hút nhựa và ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo.
Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội và xin được hưởng giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo S phù hợp bản kết luận điều tra của Công an huyện H, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo S đã có hành vi mua chất ma túy loại loại Methamphetamine về để bán lại cho con nghiện để kiếm lời với số lượng khi bị bắt là 7,9456 gam. Do đó, bị cáo S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo S biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo S đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục bị cáo S và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Nhân thân: Bị cáo S không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 12/3/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng theo Quyết định số 143/QĐ-TA ngày 18/2/2022.
[4] Phạt bổ sung bị cáo S 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp Ngân sách Nhà nước.
[5] Buộc bị cáo S nộp lại 100.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp Ngân sách Nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 gói niêm phong số vụ 1427/23 (7004); 01 gói thuốc lá hiệu Jet là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp;
- - 01 cân tiểu ly; một số gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa không chứa gì; 04 (bốn) ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì; 01 (một) bình nhựa có nắp đậy, trên nắp gắn 01 ống hút nhựa và ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp;
- - 01 điện thoại di động hiệu Vivo bị cáo sử dụng để liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước là phù hợp.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý trong một vụ án khác.
Đối với Đặng Cẩm N, Nguyễn Thị Mỹ L không chứng minh được vai trò đồng phạm với Lê Ngọc S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã giao Đặng Cẩm N và Nguyễn Thị Mỹ L cho Công an xã B, H xử lý hành chính, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và dân sự; chấp nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
- Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
- Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2023.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Ngọc S 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- - Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
- Phạt bổ sung bị cáo Lê Ngọc S 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp Ngân sách nhà nước.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo Lê Ngọc S chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Căn cứ vào khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số vụ 1427/23 (7004); 01 gói thuốc lá hiệu Jet; 01 cân tiểu ly; một số gói nylon không chứa gì; một số ống hút nhựa không chứa gì; 04 (bốn) ống thủy tinh có đầu tròn không chứa gì; 01 (một) bình nhựa có nắp đậy, trên nắp gắn 01 ống hút nhựa và ống thủy tinh có đầu tròn;
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo.
- Buộc bị cáo S nộp lại 100.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Bị cáo Lê Ngọc S chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- - Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
- Bị cáo Lê Ngọc S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
