|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/DS-ST
Ngày 23 tháng 4 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn Tám và ông Nguyễn Đình Phùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Tuyết là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: ông Lê Hoàng Vỉnh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2022/TLST-DS, ngày 14/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 247/2023/QÐST-DS, ngày 03 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên toà số: 77/2024/QÐST-DS, ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H. Địa chỉ trụ sở: 25 B, Nguyễn Thị Minh K, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (H2). Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quốc T - Tổng Giám Đốc. Người đại diện theo ủy quyền: bà Huỳnh Nguyễn Bảo H, Chức vụ: giám đốc trung tâm xử lý nợ Hội sở.
Người đại diện theo uỷ quyền lại: ông Phan Đạt T1 - chức vụ: cán bộ xử lý nợ theo Giấy ủy quyền ngày 19/7/2022. (có mặt).
- Bị đơn: Ông Võ Đức T2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: số 283, tổ D, ấp P (nay là Khóm P), thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: số C L, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần T3. Địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà F, đường L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. (Địa chỉ trụ sở chính của Công ty cổ phần T3 hiện tại: Tầng 29, tòa nhà B, số B đường C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội) do ông Lê Tiến D - Chức vụ: Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật, uỷ quyền cho ông Trần Văn H1 – Chức vụ: Nhân viên làm đại diện. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 7 năm 2022, nguyên đơn là Ngân hàng thương mại phát triển thành phố H và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phan Đạt T1 trình bày: Nguyên vào ngày 31/7/2018 ông Võ Đức T2 có vay vốn của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H theo hợp đồng tín dụng số: 16598/18MN/HĐTD và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018 với số tiền vốn vay là 834.350.000 đồng, thời hạn vay là 180 tháng, mục đích vay: mua bất động sản dự án căn hộ S tại tầng A Z tổ hợp căn hộ khách sạn T4, thuộc dự án Khu đô thị D, khu K, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Phương thức trả nợ: ấn hạn gốc 12 tháng, bắt đầu trả vào ngày 25 hàng tháng (bắt đầu từ ngày 25/8/2018); phương thức giải ngân chuyển vào tài khoản bên nhận nợ; Lãi suất cho vay là 10,5%/năm.
Để đảm bảo các khoản vay nêu trên ông Võ Đức T2 đã thế chấp toàn bộ căn hộ số 16 tại tầng 10 Zone 3 tổ hợp căn hộ khách sạn T4, thuộc dự án Khu đô thị D, khu K, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo hợp đồng mua bán căn hộ số: 31016/2018/HĐMBCH-THEOCOASTALHILL, ngày 22/01/2018 giữa bên bán là Công ty cổ phần T3 với bên mua là ông Võ Đức T2 tại hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 13597/18MN/HĐBĐ, ngày 31/7/2018 tại Ngân hàng thương mại phát triển thành phố H thông qua giấy chứng nhận đăng ký biên pháp bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án do Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận đề ngày 31/7/2018.
Quá trình sử dụng nguồn vốn vay ông Võ Đức T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi cho Ngân hàng theo thoả thuận và phía Ngân hàng có nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Võ Đức T2 không thực hiện, kéo dài thời gian trả nợ và nhầm trốn tránh nghĩa vụ cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng yêu cầu:
- Ông Võ Đức T2 phải thanh toán số tiền vốn vay và lãi tổng cộng 1.209.050.304 đồng (trong đó số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 414.300.306 đồng) cho Ngân hàng và tính lãi phát sinh tiếp theo của hợp đồng tín dụng cho đến khi ông Võ Đức T2 thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng.
- Ông Võ Đức T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 13597/18MN/HĐBĐ, ngày 31/7/2018 và các phụ lục kèm theo giữa Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H với ông Võ Đức T2 để đảm bảo thi hành án. Ngoài ra không yêu cầu nào khác.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Ông Võ Đức T2 (là bị đơn): không có lời khai.
- Ông Trần Văn H1 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần T3 trình bày: ngày 22/01/2018 Công ty cổ phần T3 có ký kết với ông Võ Đức T2 đối với hợp đồng mua bán căn hộ số 31016/2018/HĐMBCH-THEOCOASTALHILL, về việc mua bán căn hộ 16 tại tầng A Z tổ hợp căn hộ khách sạn T4, thuộc dự án Khu đô thị D, khu K, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi ký kết hợp đồng thì ông Võ Đức T2 đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 20/8/2017 đến ngày 31/7/2018 tổng cộng số tiền là 1.441.150.000 đồng cho phía Công ty cổ phần T3, như vậy cho đến nay ông T2 đã thanh toán được 95% toàn bộ giá trị của hợp đồng, ông T2 còn phải thanh toán số tiền còn lại là 75.850.000 đồng khi phía Công ty có thông báo nộp tiếp. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại phát triển thành phố H thì phía Công ty không có ý kiến gì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Trường hợp phía Ngân hàng phát mãi tài sản bảo đảm để thực hiện thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bị đơn, Công ty cổ phần T3 yêu cầu bên mua tiếp theo tiếp tục có nghĩa vụ thánh toán số tiền 75.850.000 đồng còn lại mà ông T2 chưa thanh toán theo hợp đồng khi Công ty có thông báo nộp tiếp và bên mua tiếp theo của tài sản bảo đảm sẽ tiếp tục kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T2 trong hợp đồng mua bán đã ký với Công ty. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự: Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H khởi kiện ông Võ Đức T2 yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: căn cứ hợp đồng tín dụng hợp đồng tín dụng số: 16598/18MN/HĐTD và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018 Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H đối với ông Võ Đức T2, yêu cầu ông T2 phải số tiền vốn vay và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 17/4/2024 tổng cộng là số tiền vốn vay và lãi là 1.209.050.304 đồng (trong đó số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán là 414.300.306 đồng) có căn cứ do ông T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo thoả thuận hợp đồng khi đến hạn nên căn cứ theo quy định tại Điều 357, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đối với với tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay nhưng do ông T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H cần duy trì tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án sau này.
Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 5.000.000 đồng ông T2 phải chịu theo quy định.
Về án phí dân sự sơ thẩm: ông T2 phải chịu án phí theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với bị đơn ông Võ Đức T2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: số 283, tổ D, ấp P (nay là Khóm P), thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- [1.2] Bị đơn ông Võ Đức T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 do ông Trần Văn H1 là người đại diện theo uỷ quyền đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T2 và ông H1.
- [2] Về nội dung giải quyết vụ án:
-
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn thanh toán số tiền vốn vay và lãi tổng cộng 1.209.050.304 đồng (trong đó số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 414.300.306 đồng) theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 16598/18MN/HĐTD; giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018 cho đến khi dứt nợ.
Căn cứ hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H với ông Võ Đức T2 là tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, có hiệu lực làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên kể từ ngày ký.
Đến hạn định kỳ ông T2 không thực hiện đúng, đã vị phạm nghĩa vụ của hợp đồng, Ngân hàng có nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông Võ Đức T2 không trả được đúng thoả thuận, quá trình Toà án thụ lý cho đến phiên toà hôm nay phía bị đơn ông T2 biết thông qua khâu tống đạt các thông báo, quyết định của Toà án nhận trực tiếp nhưng cũng không có ý kiến trình bày gửi cho Toà án hay có yêu cầu phản đối gì đối với yêu cầu của phía nguyên đơn nên Ngân hàng vẫn giữ nguyên khởi kiện yêu cầu ông T2 chịu trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi thực hiện xong các khoản nợ vay. Căn cứ Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Võ Đức T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 414.300.306 đồng. Ngoài ra, còn phải trả tiền lãi phát sinh tiếp theo từ ngày 18/4/2024 cho đến xong các khoản nợ vay của Ngân hàng theo mức lãi suất thoả thuận của Hợp đồng tín dụng số 16598/18MN/HĐTD; giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018.
- [2.2] Việc tài sản thế chấp: ông Võ Đức T2 đã thế chấp toàn bộ căn hộ số 16 tại tầng 10 Zone 3 tổ hợp căn hộ khách sạn T4, thược dự án Khu đô thị D, khu K, xã N, TP Q, tỉnh Bình Định theo hợp đồng mua bán căn hộ số 31016/2018/HĐMBCH-THEOCOASTALHILL, ngày 22/01/2018 giữa bên bán là Công ty cổ phần T3 với bên mua là ông Võ Đức T2 tại hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 13597/18MN/HĐBĐ, ngày 31/7/2018 tại Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H thông qua giấy chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án do Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP Hồ Chí Minh chứng nhận đề ngày 31/7/2018 và qua kết quả Ủy thác cho Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tiến hành biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản đang thế chấp cho Ngân hàng thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đề ngày 29 tháng 3 năm 2023 do Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tiến hành có nôi dung ghi nhận như: tại thời điểm thẩm định 01 căn hộ S, tại tầng 10 Z, tổ hợp căn hộ khách sạn T4, thuộc dự án Khu đô thị D, khu K, xã N, TP Q, tỉnh Bình Định (mã số 6523), nội thất trong phòng được lắp đặt đầy đủ, hiện căn hộ đã thi công xong chưa đưa vào hoạt động kinh doanh (tài sản hình thành tronh tương lai) là nhằm bảo đảm tiền vay. Đồng thời ông Trần Văn H1 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần T3 phía ông T2 đã thanh toán được 95% toàn bộ giá trị của hợp đồng mua bán căn hộ, hiện nay ông T2 còn phải thanh toán số tiền còn lại là 75.850.000 đồng khi phía Công ty có thông báo nộp tiếp. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại phát triển thành phố H thì phía Công ty không có ý kiến gì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Trường hợp phía Ngân hàng phát mãi tài sản bảo đảm để thực hiện thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bị đơn, Công ty cổ phần T3 yêu cầu bên mua tiếp theo tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán số tiền 75.850.000 đồng còn lại mà ông T2 chưa thanh toán theo hợp đồng khi Công ty có thông báo nộp tiếp và bên mua tiếp theo của tài sản bảo đảm sẽ tiếp tục kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T2 trong hợp đồng mua bán đã ký với Công ty. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu gì khác Từ những phân tích nêu trên chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án các khoản tiền vay nợ của ông T2 khi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, cần tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 13597/18MN/HĐBĐ, ngày 31/7/2018.
-
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn thanh toán số tiền vốn vay và lãi tổng cộng 1.209.050.304 đồng (trong đó số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày 17/4/2024 là 414.300.306 đồng) theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 16598/18MN/HĐTD; giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018 cho đến khi dứt nợ.
- [3] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản số tiền 5.000.000 đồng phía Ngân hàng đã tạm ứng trước, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Võ Đức T2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại phát triển thành phố H số tiền này theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí, bị đơn ông Võ Đức T2 phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- [5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 157, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H đối với ông Võ Đức T2.
- Buộc ông Võ Đức T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H tổng cộng số tiền vốn vay và lãi là 1.209.050.304 đồng (trong đó số tiền vốn là 794.749.998 đồng và số tiền lãi là 414.300.306 đồng tính đến ngày 17/4/2024) (bằng chữ: một tỷ hai trăm lẻ chín triệu không trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ bốn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo (ngày 18/4/2024) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải trả khoản tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã ký thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 16598/18MN/HĐTD, ngày 31/7/2018 và giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 16598/18MN/HĐTD/ÐNGN-KUNN/01, ngày 31/7/2018.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Võ Đức T2 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ không đầy đủ các khoản nợ như trên thì Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền tài sản số: 13597/18MN/HĐBĐ, ngày 31/7/2018 giữa Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H với ông Võ Đức T2 để đảm bảo thi hành án.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Võ Đức T2 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Võ Đức T2 phải chịu án phí số tiền là 48.272.000 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng)
- Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 21.330.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005754, ngày 14/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Võ Đức T2 và Công ty cổ phần T3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thành Thuận |
Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 114/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Phát triển thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Võ Đức T
