|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2025/HS-ST Ngày: 11/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Luyện
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Giáo viên nghỉ hưu
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên - Thư ký Toà án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Dương Bá Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 81/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HS ngày 14/5/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐ – HPT ngày 26/5/2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên:Phạm Ngọc T Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 2004
HKTT: Số E Ngõ Q, P.T, Q . H, TP .
Nơi ở hiện tại: P408 No.1, Chung cư H L, quận H, TP .
Nghề nghiệp: Tự do Văn hóa: 06/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Không rõ
Họ tên mẹ: Phạm Tuyết NhungSinh năm: 1977
Tiền án, tiền sự:Không
Đầu thú, tạm giữ từ ngày 18/9/2024, tạm giam từ 27/9/2024 tại Trại tạm giam số 02 CATP H.
-
Họ và tên:Nguyễn Huy P Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 2005
HKTT: Thôn T, X.Vũ Công, K, Thái Bình
Nơi ở hiện tại: Tổ 11A P.T, H, Hà Nội
Nghề nghiệp: Tự do Văn hóa: 12/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Văn LinhSinh năm: 1984
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị NhungSinh năm: 1987
Tiền án, tiền sự:Không
Đầu thú, tạm giữ từ ngày 18/9/2024, tạm giam từ 27/9/2024 tại Trại tạm giam số 02 CATP H.
-
Họ và tên:Lê Minh Giới T1: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 02/8/2007 (17 tuổi 01 tháng 13 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và chỗ ở: Số G N, tổ A phường Đ, Q . L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Lê Hải C năm: 1984
Họ tên mẹ: Bùi Phương DungSinh năm: 1984
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Nguyễn Đức H Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 29/6/2007 (17 tuổi 02 tháng 17 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ D phường G, Q. L, Hà Nội Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Đức KhoaSinh năm: 1978
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim LiênSinh năm: 1981
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Nguyễn Quốc A Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 07/12/2007 (16 tuổi 10 tháng 08 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Số A N, tổ A phường Đ, Q . L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Phi KhanhSinh năm: 1975
Họ tên mẹ: Bùi Thị H1 Sinh năm: 1979
Tiền án, tiền sự:Không
Nhân thân: Tại Bản án số 46/2025/HSST ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 07 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 CATP H.
-
Họ và tên:Đặng Trung H2 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 24/01/2008 (16 tuổi 07 tháng 22 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Số E N, tổ A phường Đ, Q . L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 11/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Đặng Văn TrungSinh năm: 1980
Họ tên mẹ: Hoàng Thị V NgaSinh năm: 1985
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Nguyễn Mạnh N Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 03/7/2008 (16 tuổi 02 tháng 17 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ 02 phường G, Q. L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 09/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Mạnh C1 chết
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị ĐịnhSinh năm: 1974
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Vũ Văn Đ Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 13/12/2007 (16 tuổi 10 tháng 02 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ 5 phường G, Q . L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 09/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha: Vũ Văn TrườngSinh năm: 1976
Họ tên mẹ: Nông Thị Bích HuyềnSinh năm: 1976
Tiền án, tiền sự:Không
Nhân thân: Tại Bản án số 46/2025/HSST ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 07 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 CATP H.
-
Họ và tên:Nguyễn Trọng Đ1 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 15/9/2008 (16 tuổi tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ D phường G, Q . L, Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Trọng CườngSinh năm: 1984
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị TuyếtSinh năm: 1986
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Kiều Chí T2 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 26/10/2007 (16 tuổi 10 tháng 20 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ B phường T, Q . L, TP Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Kiều Chí QuyếtSinh năm: 1982
Họ tên mẹ: Phùng Thị Kim BíchSinh năm: 1986
Tiền án, tiền sự:Không
Nhân thân: Tại Bản án số 46/2025/HSST ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 07 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS (Bản án đã có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 02 CATP H.
-
Họ và tên:Nguyễn Văn H3 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 22/07/2007 (17 tuổi 01 tháng 24 ngày tại thời điểm phạm tội)
HKTT:Xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
Nơi ở hiện tại:Tổ D phường G, Q . L, TP Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Văn ThuậnSinh năm: 1978
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị ThiSinh năm: 1987
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Nguyễn Đức T3 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 15/09/2007 (17 tuổi tại thời điểm phạm tội)
HKTT và nơi ở hiện tại:Tổ B phường T, Q . L, TP Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 09/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Cao C2 chết
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị HườngSinh năm: 1982
Tiền án, tiền sự:Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
-
Họ và tên:Nguyễn Đỗ Đức A1 Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Không
Sinh năm: 28/7/2006
HKTT và nơi ở hiện tại:Số D ngõ B N, Tổ A phường Đ, Q.L, TP Hà Nội
Nghề nghiệp: Không Văn hóa: 10/12
Quốc tịch: Việt Nam D: Kinh
Họ tên cha:Nguyễn Thành ĐôngSinh năm: 1983
Họ tên mẹ: Đỗ Hồng HoaSinh năm: 1983
Tiền án, tiền sự:Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/02/2025, hủy giam ngày 03/4/2025, hiện áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê M là bà Bùi Phương D, sinh năm 1984; Trú tại: Tổ A phường Đ, quận L, TP ..
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức H là bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1981; Trú tại: Tổ D phường G, quận L, TP ..
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc A là bà Bùi Thị H1, sinh năm 1979; Trú tại: Tổ A phường Đ, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Trung H2 là bà Hoàng Thị Vân N1, sinh năm 1985; Trú tại: Tổ A phường Đ, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh N là bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1974; Trú tại: Tổ B phường G, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Văn Đ là bà Nông Thị Bích H4, sinh năm 1976; Trú tại: Tổ E phường G, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trọng Đ1 là bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1986- Trú tại: Tổ D phường G, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Kiều Chí T2 là bà Phùng Thị Kim B, sinh năm 1986; Trú tại: Tổ B phường T, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H3 là bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1987; HKTT: Xóm B, xã V, huyện Đ, Thái Nguyên; Chỗ ở: Tổ phường G, quận L, Hà Nội.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức T3 là bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ B phường T, quận L, Hà Nội.
* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H3, Nguyễn Mạnh N, Nguyễn Trọng Đ1: Bà Nguyễn Bích H6 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T11, thành phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Quốc A, Kiều Chí T2, Nguyễn Đức T3, Vũ Văn Đ: Ông Nguyễn Quang P1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T11, thành phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho các bị cáo Lê M, Đặng Trung H2, Nguyễn Đức T3: Bà Hồ Thúy S – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T11, thành phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đỗ Đức A1: Bà Trịnh Thị Kim T6, ông Vũ Quang V1 – Luật sư thuộc Công ty L3, Sở tư pháp thành phố Hà Nội.
(người đại diện hợp pháp cho các bị cáo chưa thành niên và những người bào chữa có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 15/9/2024, trên địa bàn quận L xảy ra vụ gây rối trật tự công cộng giữa 02 nhóm đông đối tượng, sử dụng phương tiện xe mô tô phóng nhanh vượt ẩu, sử dụng hung khí đuổi đánh nhau gây mất trật tự trị an xã hội, an toàn giao thông trên địa bàn. Cụ thể như sau:
Nhóm thứ nhất:
Khoảng 20 giờ ngày 15/09/2024, Phạm Ngọc T ngồi sau xe mô tô do đối tượng T7 (không rõ thông tin) điều khiển đi từ H sang khu vực phố P, quận H, gặp và tham gia vào một nhóm các thanh niên khoảng 10 xe mô tô đang tụ tập trên đường, trong đó có Nguyễn Huy P một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu xám, BKS 29D2 – 666.02. T chuyển sang xe mô tô do P điều khiển. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nhóm của P, T di chuyển qua cầu V sang địa bàn quận L. Quá trình di chuyển trên các tuyến phố Đ - C - Chu Huy M1 – S - đường E - C thuộc địa bàn quận L, nhóm của P, T có hành vi điều khiển xe mô tô đi dàn hàng trên đường với tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm, lạng lách, đánh võng, vượt đèn đỏ, bấm còi liên tục, hò hết gây mất an ninh trật tự, mất an toàn giao thông.
Nhóm thứ hai:
Khoảng 21 giờ ngày 15/9/2024, Lê M điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức H đi ra quán nước không nhớ tên ở KĐT V thì gặp Nguyễn Đỗ Đức A1 điều khiển xe máy Honda Vision biển 29K2 11895 chở Đặng Trung H2, Nguyễn Đức T3 điều khiển xe máy chở Kiều Chí T2, Nguyễn Quốc A và một số thanh niên khác không biết tên. Sau đó, cả nhóm rủ nhau đi lượn phố. Khi đi trên đường N, Vũ Văn Đ điều khiển xe máy chở Nguyễn Văn H3, Nguyễn Trọng Đ1 điều khiển xe máy chở Nguyễn Mạnh N và đối tượng Dương A2 (không rõ thông tin) tham gia đi cùng. M nói với cả nhóm là có đối tượng gạ đánh nhau với nhóm của M, nếu gặp trên đường sẽ đánh nhau. Lúc này, Dương A2 có hỏi M: “ anh có cần dao không?”. M bảo “có mang ra đây”. Sau đó Dương A2 về lấy dao sau đó quay lại đưa cho M 01 con dao dài khoảng 40 cm, một lưỡi, đầu uốn nhọn, chuôi gỗ, có vỏ bao, M cầm sau đó đưa lại cho H. Nhóm của M đi thành đoàn dàn hàng trên đường phố, phóng nhanh đánh võng, vượt đèn đỏ, bấm còi liên tục, hò hét gây huyên náo trên các tuyến đường N, Nguyễn Văn C3, Hồ N, Cổ L1. Trong quá trình di chuyển, H có sử dụng con dao trên để trêu các đối tượng trong nhóm mình. Cả nhóm di chuyển đến đường C gần Trung tâm A3 thì dừng lại. Nhóm M
tụ tập dưới lòng đường bên phải theo chiều hướng về A, H và M giơ dao trêu các bạn trong nhóm.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhóm của P, T di chuyển trên tuyến đường C thì gặp nhóm của M. Lúc này, M đang cầm vỏ bao dao đứng giữa đường. Thấy nhóm khác đông người đi qua, nhóm của M điều khiển xe di chuyển tiếp thì bị nhóm của P, T quay lại hò hét, đuổi đánh. Nhóm của M bỏ chạy theo nhiều hướng. M điều khiển xe chở H bỏ chạy theo hướng đường 5 thì bị P và T cùng một số đối tượng đuổi đánh trên trên các tuyến phố Đ - N - S - T - M - KĐT Vimhome – Nguyễn Cao L2 – Chợ D1 - Ngô Gia T8. Quá trình đuổi nhau, H liên tục giơ dao ra khua về nhóm P, T đuổi theo sau. Một đối tượng (T chỉ biết trong đó có người tên là H7 và Đ, không biết tên tuổi đầy đủ, địa chỉ cụ thể) trong nhóm của T đưa cho T 01 con dao dài khoảng 50cm. T cầm và giơ về phía trước hô hào, chửi M, H.
Khi chạy vào ngõ 638/45/8 Ngô Gia T8, P.Ð, do ngõ cụt nên M, H dừng xe. Lúc này nhóm P, T chỉ có P, T và 02 đối tượng không rõ. 02 đối tượng này nhặt gạch, cầm thanh sắt đánh gây thương tích cho H và M, còn P cầm điện thoại đứng quay video. T cầm dao đe dọa và nhặt thu giữ dao của H, M, dùng chân đá vào M và H. Sau đó, P và T bỏ đi và đi vứt dao. H và M được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ4.
Ngày 16/09/2024, Cơ quan công an tiếp nhận trình báo của anh Lê Hải C4 (sinh năm 1984; trú tại: Tổ A, P. Đ, L, Hà Nội) về việc con trai anh là cháu Lê M bị đánh gây thương tích.
Ngày 18/9/2024, Phạm Ngọc T và Nguyễn Huy P đến Cơ quan công an đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Ngọc T và Nguyễn Huy P khai nhận hành vi phù hợp với nội dung vụ án nêu trên và các tài liệu chứng cứ đã thu thập.
Tại Cơ quan điều tra, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H2, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ1, Kiều Chí T2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Đỗ Đức A1 khai nhận hành vi phù hợp với nội dung vụ án nêu trên và các tài liệu chứng cứ đã thu thập.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ các đồ vật sau:
Tạm giữ của Phạm Ngọc T: 01 điện thoại Samsung J1 màu trắng.
Tạm giữ của Nguyễn Huy P: 01 điện thoại Iphone 11 Promax.
Tạm giữ của Nguyễn Đức H: 01 xe mô tô Honda Vision BKS, 01 đăng ký xe.
Tạm giữ của anh Vũ Ngọc T9: 01 Honda SH màu đỏ BKS 29D2-666.02 (xe Nguyễn Huy P sử dụng).
Tạm giữ của Đặng Trung H2: 01 xe máy Honda Vision BKS 29K2-118.95.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã gửi công văn đến Ủy ban nhân dân phường Đ, quận L xác định: Vào tối ngày 15/09/2024, Ủy ban nhân dân
phường Đ nhận được phản ánh của quần chúng nhân dân trên địa bàn phường về nhóm thanh thiếu niên có hành vi điều khiển xe mô tô di chuyển với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đánh nhau gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Ủy ban nhân dân phường Đ đề nghị Cơ quan CSĐT – Công an quận L xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Xác minh thương tích tại Bệnh viện Đ4, xác định Lê M bị sây sát bầm tím vùng mặt, sây sát mạn sườn. Nguyễn Đức H bị rách da vùng trán khâu 10 mũi.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe của Lê M và Nguyễn Đức H. Tuy nhiên, Lê M và Nguyễn Đức H từ chối đi giám định thương tích, không đề nghị xử lý đối với các đối tượng có hành vi gây thương tích cho M và H.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện hợp pháp của các bị cáo chưa thành niên đều nhận thức được trách nhiệm của gia đình trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: hành vi của các bị cáo Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H2, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ1, Kiều Chí T2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Đỗ Đức A1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
Về hình phạt đề nghị:
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; điều 58 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.
Xử phạt bị cáo P, T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 58, điều 65, điều 91 BLHS, Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Đức A1 từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Xử phạt bị cáo Lê M, H từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Xử phạt các bị cáo H2, N, Đ1, T3, H3 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điều 56 BLHS
Xử phạt bị cáo A, Đ, T2 từ 15 đến 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 07 tháng tù của bản án số 46/2025/HSST ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã có hiệu lực pháp luật. Buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 22 đến 25 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Đề nghị trả lại 01 điện thoại Samsung J1 và 01 điện thoại IPhone 11 promax đã thu giữ của bị cáo P và bị cáo T.
Tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo Đức A1 đề nghị HĐXX xem xét về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có bàn bạc từ trước; bị cáo Đức A1 không trực tiếp sử dụng hung khí. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng, có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo với mức thấp nhất của khung hình phạt.
Các trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên đề nghị HĐXX xem xét do các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; các bị cáo Lê M, H3, H, H2, N, T3, Đ1 lần đầu phạm tội. Các bị cáo đều có ông bà được tặng huân huy chương, gia đình có công với cách mạng nên đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp hơn đề nghị của đại diện VKS.
Đại diện VKS có ý kiến: đối với các bị cáo A, Đ, T2 đã bị đưa ra xét xử 07 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo bản án số 46/2025/HSST ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm đã có hiệu lực pháp luật nên buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay,
các bị cáo không có ý kiến gì và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm S1 đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Tối ngày 15/9/2024, các bị cáo Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H2, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ1, Kiều Chí T2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Đỗ Đức A1 có hành vi tụ tập, sử dụng xe mô tô đi dàn hàng trên đường phố, không đội mũ bảo hiểm, phóng nhanh vượt ẩu, lạng lách đánh võng, bấm còi liên tục, vượt đèn đỏ, hò hét, cầm 01 con dao khua trên đường trong quá trình di chuyển gây mất trật tự, mất an toàn giao thông công cộng trên các tuyến phố thuộc địa bàn quận L, TP Hà Nội.
Ngoài ra, Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H còn có hành vi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, phóng nhanh, lạng lách đánh võng, bấm còi liên tục, vượt đèn đỏ, hò hét, cầm dao đuổi đánh nhau trên đường phố thuộc địa bàn quận L, TP Hà Nội.
Hành vi của các bị cáo Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H2, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ1, Kiều Chí T2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Đỗ Đức A1 đã cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trật tự công cộng được bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý phù hợp đối với hành vi của các bị cáo gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo P, T, Lê M và H có vai trò chính do trực tiếp sử dụng hung khí. Các bị cáo còn lại vai trò thứ yếu do không trực tiếp dùng hung khí. Tuy nhiên các bị cáo không can ngăn mà lại đồng tình ủng hộ, cùng tham gia phóng nhanh, lạng lách đánh võng, bấm còi liên tục, vượt đèn đỏ, hò hét cùng các bị cáo Lê M và H nên bị đồng phạm về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo A, Đ, T2 vừa bị đưa ra xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng theo bản án số 46 ngày 28/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm nên không bị coi là tiền án.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo P, bị cáo T ra đầu thú được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Lê M, H, H2, N, Đ1, H3, T3, Đức A1 phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông bà có huân huy chương kháng chiến, gia đình có công với cách mạng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo A, Đ, T2 có ông bà có huân huy chương, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo P, bị cáo T đã thành niên, lại có hành vi gây thương tích cho Lê M và H nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian.
Các bị cáo Lê M, H, H2, N, Đ1, H3, T3 phạm tội khi chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, lần đầu phạm tội; trước khi phạm tội còn đang đi học. Bị cáo Nguyễn Đỗ Đức A1 đã thành niên nhưng ở vai trò thứ yếu, không trực tiếp sử dụng hung khí. Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự; ông bà bị cáo được tặng H8 huy chương kháng chiến nên mở lượng khoan hồng cho các bị cáo và chỉ cần xử phạt các bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điều kiện giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa tội phạm; phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước ta khi xử lý người chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Lê M, bị cáo H trực tiếp sử dụng hung khí, bị cáo Đức A1 đã thành niên nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.
Các bị cáo A, Đ, T2 là người chưa thành niên nhưng đã bị đưa ra xét xử, xử phạt 07 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng theo bản án số 46 ngày 28/3/2025 của TAND huyện Gia Lâm nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về xử lý vật chứng:
Trả lại bị cáo T : 01 điện thoại Samsung J1 màu trắng, bị cáo P 01 điện thoại Iphone 11 Promax đã qua sử dụng do không liên quan đến vụ án.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, đại diện hợp pháp, trợ giúp viên pháp lý bào chữa của các bị cáo chưa thành niên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Các vấn đề khác:
Đối với hành vi của Phạm Ngọc T gây thương tích cho H và M, do M và H đã rút đơn trình báo, từ chối giám định tỷ lệ tổn hại sức khoẻ và không đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng gây thương tích, nên hành vi cố ý gây thương tích của T vi phạm quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ.
Đối với các đối tượng Đ, H7, Dương A2, các đối tượng khác trong vụ án, do không có tài liệu xác định được thông tin lý lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.
Đối với Nguyễn Văn Đ3 (sinh năm 2008; trú tại: Tổ D phường G, quận L, TP Hà Nội) và Nguyễn Gia K (sinh năm 2008; trú tại: Tổ D phường G, quận L, TP Hà Nội), lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh N và bị cáo Nguyễn Trọng Đ1 thể hiện Đại điều khiển xe máy chở K đi cùng với xe của N và Đ1 đi uống nước tại đường N. Khi gặp nhóm Lê M đi trên đường N, N và Đ1 đi cùng nhóm của Lê M, còn Đ3 và K có đi cùng nhóm Lê M hay không thì không rõ. Tại cơ quan điều tra, Đ3 và K khai có gặp nhóm Lê M tại đường N nhưng không tham gia đi cùng nhóm Lê M và các bị cáo khác gây rối trật tự công cộng trên địa bàn quận L ngày 15/9/2024. Ngoài ra không còn tài liệu nào khác, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn Đ3 và Nguyễn Gia K.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, BKS 29D2-666.02 tạm giữ của Nguyễn Huy P là tài sản hợp pháp của anh Vũ Ngọc T9 (sinh năm: 2004, HKTT: 50-7, trú tại: Số G, Tổ A A phường T, H, Hà Nội). Anh T9 là quản lý nơi Phạm Ngọc T làm việc. T tự ý lấy chiếc xe trên sử dụng để phạm tội, anh T9 không biết. Anh T9 có đơn xin lại chiếc xe trên để sử dụng. Ngày 16/4/2025, Cơ quan điều tra quyết định xử lý trao trả lại chiếc xe trên cho anh T9.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Visson, BKS: 29K2071.43 tạm giữ của Nguyễn Đức H, kết quả xác minh xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim L (SN: 1982, HKTT. Tổ D, phường G, L, Hà Nội là mẹ đẻ của H). Việc H tự ý lấy chiếc xe trên sử dụng để phạm tội, chị L không biết. Chị L có đơn xin
lại chiếc xe trên để sử dụng. Ngày 16/4/2025, Cơ quan điều tra quyết định xử lý trao trả lại chiếc xe trên cho chị L.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Visson, BKS: 29K2 118.95 tạm giữ của Đặng Trung H2, được đăng ký tên H2. H2 khai đây là xe mô tô do chị Hoàng Thị Vân N1 (SN: 1986, HKTT: số E N, phường Đ. L, Hà Nội, là mẹ đẻ của H2) mua và đăng ký tên H2, thực tế là chị N1 đang sử dụng. H2 tự ý lấy chiếc xe trên sử dụng để phạm tội, chị N1 không biết. Chị N1 có đơn xin lại chiếc xe trên để sử dụng. Ngày 16/4/2025, Cơ quan điều tra quyết định xử lý trao trả lại chiếc xe trên cho chị N1.
Đối với 02 con dao là hung khí các bị cáo Phạm Ngọc T, Lê M, Nguyễn Đức H trực tiếp sử dụng, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Phạm Ngọc T đi xác định xác định vị trí vứt dao tuy nhiên không tìm thấy.
Về hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông: lạng lách đánh võng, không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe, cơ quan CSĐT Công an T đã có công văn số 619/CV-VPCQCSĐT ngày 20/3/2025 đề nghị Công an phường Đ ra quyết định xử phạt hành chính đối với các bị cáo là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điều 58 BLHS đối với các bị cáo Phạm Ngọc T và Nguyễn Huy P;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điều 58, điều 91, điều 56 BLHS; Luật tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Vũ Văn Đ, Nguyễn Quốc A và Kiều Chí T2;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65, điều 58, điều 91 BLHS, Căn cứ Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Luật tư pháp người chưa thành niên đối với các bị cáo Lê M, Nguyễn Đức H, Đặng Trung H2, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Trọng Đ1, Nguyễn Mạnh N, Nguyễn Văn H3;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65, điều 58, Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đối với bị cáo Nguyễn Đỗ Đức A1.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H2, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ1, Kiều Chí T2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Đỗ Đức A1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Ngọc T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024
Bị cáo Nguyễn Huy P 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2024
Bị cáo Nguyễn Quốc A 13 (mười ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 07 tháng tù giam của bản án HSST số 46 ngày 28/3/2025 của TAND Huyện Gia Lâm đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2025.
Bị cáo Vũ Văn Đ 13 (mười ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 07 tháng tù giam của bản án HSST số 46 ngày 28/3/2025 của TAND Huyện Gia Lâm đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2025.
Bị cáo Kiều Chí T2 13 (mười ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 07 tháng tù giam của bản án HSST số 46 ngày 28/3/2025 của TAND Huyện Gia Lâm đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2025.
Bị cáo Lê Minh 1 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo Đặng Trung H2 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Đỗ Đức A1 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Lê M, Đặng Trung H2, Nguyễn Đỗ Đức A1 cho UBND phường Đ, quận L, TP . để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh N 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng Đ1 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H3 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Đức H, Nguyễn Mạnh N, Nguyễn Trọng Đ1, Nguyễn Văn H3 cho UBND phường G, quận L, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T3 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, quận L, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo Cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung:
Không áp dụng đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng:
Trả lại bị cáo Phạm Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J1 màu trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra tính năng tác dụng (niêm phong);
Trả lại bị cáo Nguyễn Huy P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra tính năng tác dụng (niêm phong);
(hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/4/2025)
3. Về án phí:
Các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của các bị cáo Lê M, H, H2, T3, Đ1, N, H3, A, Đ, T2 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thu Hà |
Bản án số 114/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 114/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Ngọc T, Nguyễn Huy P, Lê M, Nguyễn Đức H, Nguyễn Quốc A, Đặng Trung H, Nguyễn Mạnh N, Vũ Văn Đ, Nguyễn Trọng Đ, Kiều Chí T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Đỗ Đ A phạm tội Gây rối trật tự công cộng
