|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Bạc Thị Kiên
- Bà Lò Thị Cải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà:
Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2025/TL-HSST ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vì Văn V; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1968, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 4/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Lò Văn C (đã chết); Mẹ đẻ: Vì Thị C1; Bố nuôi: Vì Văn L (đã chết), Mẹ nuôi: Lò Thị Đ; Bị cáo sống chung như vợ chồng với: Lò Thị B; Con: Có 03 con, con lớn 1987, con nhỏ sinh năm: 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Bản án này đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/01/2025, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 07/01/2025, Vì Văn V đi bộ từ nhà ở bản M, xã M, huyện Đ đến khu V, xã M, huyện Đ mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, V gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc T khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Mua xong, V cất tại túi áo ngực bên trái đang mặc đi bộ về nhà. Hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang đi trên đường thuộc khu vực bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng M - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đ chủ trì, phối hợp cùng công an xã M, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái V đang mặc 01 gói ni lon màu trắng bên trong chứa 0,67 gam Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 08/01/2025 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,67 gam, gửi toàn bộ giám định.
Tại Kết luận giám định số: 74 /KL-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Vì Văn V có khối lượng 0,67 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroin (H). H lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 15/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H lại mẫu sau khi giám định là: 0,56 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.
Về vật chứng của vụ án: Ngày 27/02/2025 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,56 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng.
Bản cáo trạng số: 51/CT-VKSHĐB ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vì Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vì Văn V với mức hình phạt từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,56 gam Heroine hoàn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng.
- Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo cáo Vì Văn V.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên; Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn V khai nhận vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2025, tại khu vực bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Vì Văn V có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,67 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. V khai nguồn gốc số Heroine này là do V mua của một người đàn ông dân tộc T (không biết tên, địa chỉ) tại bản Lĩnh, xã M, huyện Đ số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Vì Văn V là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Vì Văn V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Vì Văn V không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi vì trước đó bị cáo đã có 01 tiền án đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 38/2016/HSST ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện ma túy từ năm 1991, đến năm 2022 tái nghiện lại cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, mặt khác bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Về họ tên và năm sinh của mẹ đẻ bị cáo có sự mâu thuẫn cụ thể: Tại Bản án số: 38/2016/HSST ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên ghi mẹ đẻ bị cáo là Lò Thị C3. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, căn cứ vào Lý lịch bị can (BL: 101 - 104); Biên bản xác minh (BL: 65, 66); Biên bản làm việc (BL: 67, 68); Công văn số: 15/CCCP-PV06 ngày 19/02/2025 của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ (BL: 89); D chỉ bản (BL: 141 - 144) thì có cơ sở xác định tên chính xác của mẹ đẻ bị cáo tại thời điểm hiện nay là Vì Thị Cầu và có căn cứ xác định bà Lò Thị C3 và bà Vì Thị Cầu L1 cùng một người và là mẹ đẻ của bị cáo Vì Văn V.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, mặt khác cá nhân bị cáo thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,56 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng của vụ án.
[6] Về các vấn đề khác: Vì Văn V khai số Heroine trên là do V mua của một người đàn ông dân tộc T, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) tại bản Lĩnh, xã M, huyện Đ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nhưng do cá nhân bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Tuyên bố bị cáo Vì Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Vì Văn V 01 (Một) năm 06(S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (07/01/2025). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,56 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng không có giá trị sử dụng là vật chứng của vụ án.
Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn V.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Vì Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Tuyến |
Bản án số 114/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 114/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì Văn V
