|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 114/2025/HSST Ngày: 05/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HÓA
Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
2. Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị P - sinh năm 1972 tại Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: SN F N, P.N, TP ., tỉnh Thanh Hóá; Nơi ở hiện tại: SN A H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; Con ông: Trần Cát T1 (chết) và bà Trần Thị N; chồng: Vũ Quang V và có 01 con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 25/12/2024 quyết định thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bằng lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Trần Thị P1, sinh năm 1991 (vắng).
- Trú tại: số nhà S H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Trần Thị Thu T2, sinh năm 1991(vắng)..
- Trú tại: số nhà I Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lê Thị T3, sinh năm 1985(vắng).
- Trú tại: số nhà F L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mục đích vụ lợi, nên từ ngày 19/01/2024 đến ngày 16/12/2024 Trần Thị P đã dùng 90.000.000 đồng cho 03 khách hàng trên địa bàn thành phố T vay bằng hình thức “vay thăm”, lãi xuất do hai bên thỏa thuận và cắt lãi trước từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ cho mỗi lần vay.
Về phương thức cho vay, thời hạn vay và cách tính lãi như sau: Trần Thị P cho vay tiền dao động từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ/01 lần vay/01 người, thời hạn vay là 50 ngày, mỗi ngày người vay phải trả 200.000đ tiền gốc hoặc dồn lại một kỳ 05 ngày trả một lần. Số tiền sau khi đã trừ lãi sẽ được Trần Thị P đưa trực tiếp cho người vay. Tuy nhiên, theo nhu cầu của khách vay nên một số gói vay khách hàng đã xin đảo trước hạn, thời gian đảo hạn dao động từ 30 ngày, 40 ngày, 45 ngày (Lãi xuất dao động từ 4.000đ đến 6.660đ/ngày. Tương đương 146% đến 243%/năm, gấp 7,3 lần đến 12,1 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015). Đối với lần vay đảo hạn tiếp theo ngoài việc P cắt lãi trước, P còn trừ tiếp số tiền gốc còn lại của lần vay trước (nếu còn). Số tiền còn lại P sẽ đưa cho người vay
Với cách thức như trên, Trần Thị P đã thu lợi bất chính số tiền là 59.452.061đ. Cụ thể:
1. Từ ngày 19/01/2024 đến ngày 17/10/2024, Trần Thị P cho chị Trần Thị P1, sinh năm 1991, trú tại số nhà S H, P.Đông Vệ, TP T 03 lần vay:
Lần vay thứ nhất: Từ ngày 19/01/2024 đến ngày 11/8/2024. P đã sử dụng số tiền 10.000.000đ để xoay vòng cho chị P1 vay 06 gói (trong đó: 05 gói thời hạn vay 40 ngày, 01 gói thời hạn vay 45 ngày), cắt lãi trước 3.000.000đ/01 gói vay (tương đương mức lãi xuất 6.000đ/triệu/ngày, tương ứng với lãi xuất 219%/năm, gấp 10,95 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu được 18.000.000đ (số tiền lãi được phép thu là 1.397.259đ, số tiền thu lợi bất chính 16.602.741đ). Chị P1 còn nợ 7.000.000đ tiền gốc.
Lần vay thứ hai: Từ ngày 15/04/2024 đến ngày 22/9/2024 P đã sử dụng số tiền 10.000.000đ để xoay vòng cho chị P1 vay 05 lần đảo hạn (mỗi lần 40 ngày), cắt lãi trước 3.000.000đ/01 lần (tương đương mức lãi xuất 6.000đ/triệu/ ngày, tương ứng với lãi xuất 219%/năm, gấp 10,95 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu được 15.000.000đ (số tiền lãi được phép thu là 1.150.684đ, số tiền thu lợi bất chính 13.849.316đ). Chị P1 còn nợ 6.000.000đ tiền gốc.
Lần vay thứ ba: Ngày 03/11/2024 P đã sử dụng số tiền 10.000.000đ để cho chị P1 vay thời hạn 30 ngày, P cắt lãi trước 2.000.000đ (tương đương mức lãi xuất 6.666đ/triệu/ngày, tương ứng với lãi xuất 243%/năm, gấp 12,1 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu được 2.000.000đ (số tiền lãi được phép thu là 164.383đ, số tiền thu lợi bất chính 1.835.617đ). Chị P1 còn nợ 10.000.000đ tiền gốc.
Như vậy, Trần Thị P dùng số tiền 30.000.000đ cho chị Trần Thị P1 vay. Số tiền lãi P đã thu 35.000.000đ (trong đó: số tiền được phép thu theo quy định là 2.712.326đ; số tiền thu lợi bất chính là 32.287.674đ). Hiện chị P1 còn nợ là 23.000.000đ tiền gốc.
2. Từ ngày 01/5/2024 đến ngày 17/10/2024, Trần Thị P cho chị Trần Thị Thu T2, sinh năm 1991, trú tại số nhà I Đ, phường Đ, thành phố T (là nhân viên Bệnh viện đa khoa tỉnh T) vay 04 lần, cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 01/5/2024 P cho chị T2 vay 10.000.000đ, trong vòng 50 ngày, cắt lãi trước 2.000.000đ (tương đương mức lãi xuất 4.000đ/ triệu/ ngày, tương ứng với lãi xuất 146%/năm, gấp 7,3 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu được 2.000.000đ (trong đó: số tiền lãi được phép thu 273.972đ, số tiền thu lợi bất chính 1.726.028đ).
Lần thứ hai: Ngày 15/6/2024;
Lần thứ ba: Ngày 14/8/2024;
Lần thứ tư: Ngày 17/10/2024.
P đã dùng số tiền 30.000.000đ cho chị T2 vay (mỗi lần 10.000.000đ), cắt lãi trước mỗi lần vay 3.000.000đ (tương đương mức lãi xuất 6.000đ/01 triệu/01 ngày, tương ứng với lãi xuất 219%/năm, gấp 10,95 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu được 9.000.000₫ (trong đó: số tiền lãi được phép thu 921.916đ, số tiền thu lợi bất chính 8.178.084đ).
Như vậy, Trần Thị P dùng số tiền 40.000.000đ cho chị Trần Thị Thu T2 vay. Số tiền lãi P đã thu 11.000.000đ ( trong đó: số tiền được phép thu theo quy định là: 1.095.888đ, số tiền thu lợi bất chính là 9.904.112đ). Hiện chị T2 còn nợ 3.000.000₫ tiền gốc.
3. Từ ngày 02/02/2024 đến ngày 01/11/2024, Trần Thị P cho chị Lê Thị T3, sinh năm 1985, trú tại số nhà F L, phường Đ, thành phố T vay 05 lần gồm:
- Lần thứ nhất: ngày 02/02/2024;
- Lần thứ hai: Ngày 10/4/2024;
- Lần thứ ba: ngày 01/7/2024;
- Lần thứ tư: ngày 05/9/2024;
- Lần thứ năm: ngày 01/11/2024.
Mỗi lần P đã dùng số tiền 20.000.000đ để cho vay, thời hạn vay 50 ngày, cắt lãi trước mỗi lần vay 4.000.000₫ (tương đương mức lãi xuất 4.000đ/triệu /ngày, tương ứng với lãi luất 146%/năm, gấp 7,3 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định). Số tiền lãi P đã thu 20.000.000đ ( trong đó: số tiền được phép thu 2.739.725đ; số tiền thu lợi bất chính 17.260.275đ). Hiện chị T3 còn nợ 10.000.000đ tiền gốc.
Như vậy, Tổng số tiền Trần Thị P đã cho các khách hàng vay là 90.000.000₫, khách đã trả 54.000.000đ, còn nợ lại 36.000.000đ. Tổng số tiền lãi P thu được là 66.000.000đ (trong đó: số tiền được phép thu theo quy định là 6.547.939đ, số tiền thu lợi bất chính là 59.452.061đ)
* Về thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:
Khi đầu thú tra Trần Thị P đã giao nộp cho Cơ quan Điều tra 01 cuốn sổ, bên trong có 03 tờ giấy vay tiền thể hiện người vay tiền, số tiền, thời hạn vay, thời hạn trả mà P cho chị Trần Thị P1, Trần Thị Thu T2, Lê Thị T3 vay và chữ ký xác nhận của P. Cơ quan điều tra đã chuyển kèm theo vụ án.
Cơ quan Điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chổ ở của Trần Thị P, nhưng không thu giữ được gì.
Tại bản cáo trạng số 64/CT -VKSTPTH ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trần Thị Phượng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị P từ 70.000.000 đồng – 80.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị truy thu sung quỹ nhà nước khoản tiền dùng làm công cụ phạm tội từ Trần Thị P số tiền 54.000.000 đồng, từ Trần Thị P1 số tiền 23.000.000 đồng, từ Trần Thị Thu T2 3.000.000 đồng, từ Lê Thị T3 10.000.000 đồng. Đối với khoản tiền phát sinh từ việc phạm tội mà có đại diện VKS đề nghị truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.547.939 đồng đối với Trần Thị P. Đối với khoản tiền thu lời bất chính, đại diện VKS đề nghị buộc Trần Thị P trả lại cho chị Trần Thị P1 số tiền 32.287.674 đồng, trả lại cho chị Trần Thị Thu T2 số tiền 9.904.112 đồng và đề nghị giành quyền dân sự cho Lê Thị T3 khởi kiện Trần Thị P bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về án phí đại diện VKS đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng Trần Thị P đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Trong thời gian từ ngày 19/01/2024 đến ngày 16/12/2024, Trần Thị P đã dùng số tiền 90.000.000 đồng thực hiện các giao dịch dân sự, cho chị Trần Thị P1, Trần Thị Thu T2, Lê Thị T3 đều ở trên địa bàn thành phố T vay với lãi xuất từ 4.000đ/ triệu/ ngày đến 6.600đ/ triệu/ ngày, tương đương với mức lãi xuất từ 146%/năm đến 243%/năm, gấp 7,3 lần đến 12,1 lần mức lãi xuất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS năm 2015, số tiền thu lợi bất chính số tiền 59.452.061 đồng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của Trần Thị P có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như đề nghị truy tố của VKSND thành phố Thanh Hóa là đúng.
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là tệ nạn xấu trong xã hội, gây thiệt hại về kinh tế, tạo ra nguồn thu nhập không chính đáng cho một số người. Đây là vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà hành vi phạm tội của bị cáo còn mang tích chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng, nhiều gia đình đã lụn bại kinh tế, vợ, chồng, con cái mâu thuẫn, hạnh phúc gia đình tan vỡ. Bị cáo ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích hám lợi và thái độ xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đầu thú, tích cực ủng hộ quỹ nhân đạo do địa phương phát động, bản thân bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền thu lời bất chính ít nên không cần thiết buộc bị cáo phải cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương mà cần áp dụng Điều 35 BLHS phạt bị cáo một khoản tiền là hình phạt chính để nộp ngân sách nhà nước cũng đủ sức răn đe giáo dục.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- Trần Thị P cho chị Trần Thị P1 vay 03 lần: lần thứ nhất 10.000.000 đồng, lần thứ hai 10.000.000 đồng, lần thứ ba 10.000.000 đồng. Các lần vay đều độc lập, nên xác định số tiền gốc bị cáo cho Trần Thị P1 vay là 30.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo dùng để cho vay nhằm thu lời bất chính, nên xác định khoản tiền này là công cụ phạm tội, do đó cần áp dụng Điều 47 Bộ luật tố tụng Hình sự để truy thu, tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trong số vay này Trần Thị P1 mới thanh toán được cho P số tiền gốc là 7.000.000 đồng, còn nợ lại 23.000.000 đồng. Do đó cần truy thu từ Trần Thị P1 số tiền gốc là 23.000.000 đồng, truy thu từ Trần Thị P 7.000.000 đồng.
Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi xuất 20%/năm Trần Thị P đã thu của Trần Thị P1 với tổng số tiền là 2.712.326 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần phải truy thu để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lời bất chính mà Trần Thị P đã thu của Trần Thị P1 là 32.287.674 đồng cần buộc Trần Thị P phải trả lại cho chị Trần Thị P1.
- Trần Thị P cho chị Trần Thị Thu T2 vay bốn lần, mỗi lần 10.000.000 đồng, các lần vay đều độc lập, nên xác định số tiền gốc các bị cáo cho chị Trần Thu T2 vay là 40.000.000 đồng. Số tiền này P dùng để cho vay nhằm thu lời bất chính, nên xác định khoản tiền này là công cụ phạm tội, do đó cần áp dụng Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự để truy thu, tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trong 04 lần vay chị T2 đã trả được cho P 37.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại 3.000.000 đồng. Do đó cần truy thu từ chị Trần thị Thu T2 3.000.000 đồng, truy thu từ Trần Thị P 37.000.000 đồng.
Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi xuất 20%/năm Trần Thị P đã thu của chị Trần Thị Thu T2 với tổng số tiền là 1.095.888đ đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần phải truy thu để nộp ngân sách nhà nước từ Trần Thị P.
Đối với số tiền thu lời bất chính mà Trần Thị P đã thu của chị Trần Thị Thu T2 là 9.904.112 đồng cần buộc Trần Thị P phải trả lại cho chị Trần Thị Thu T2.
- Trần Thị P cho chị Lê Thị T3 vay 05 lần, mỗi lần vay 20.000.000 đồng với tổng số tiền vay là 100.000.000 đồng. Trong tổng số tiền vay này P chỉ dùng 20.000.000 đồng để quay vòng, nên xác định số tiền gốc P dùng cho chị T3 vay là 20.000.000 đồng. Số tiền này P dùng để cho vay nhằm thu lời bất chính, nên xác định khoản tiền này là công cụ phạm tội, do đó cần áp dụng Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự để truy thu, tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trong số tiền vay này chị Lê Thị T3 mới thanh toán được cho P số tiền gốc là 10.000.000 đồng, còn nợ lại 10.000.000 đồng. Do đó cần truy thu từ Lê Thị T3 số tiền gốc là 10.000.000 đồng, truy thu từ Trần Thị P 10.000.000 đồng.
Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi xuất 20%/năm Trần Thị P đã thu của Lê Thị T3 với tổng số tiền là 2.739.725 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần phải truy thu để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lời bất chính mà Trần Thị P đã thu của Lê Thị T3 là 17.260.275 đồng, quá trình điều tra cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị Lê Thị T3 không yêu cầu P phải trả lại, nên HĐXX không xem xét mà giành quyền cho chị T3 khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị P phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt:
Phạt bị cáo Trần Thị P 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với khoản tiền dùng vào việc phạm tội:
- + Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 54.000.000 đồng đối với Trần Thị P.
- + Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 23.000.000 đồng đối với chị Trần Thị P1.
- + Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng đối với chị Trần Thị Thu T2.
- + Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng đối với chị Lê Thị T3.
- Đối với khoản tiền phát sinh từ việc phạm tội mà có (khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% năm): Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.547.939 đồng đối với Trần Thị P.
- Buộc Trần Thị P trả lại khoản tiền thu lời bất chính cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể:
- + Trả lại cho chị Trần Thị P1 số tiền 32.287.674 đồng.
- + Trả lại cho chị Trần Thị Thu T2 số tiền 9.904.112 đồng.
Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hào |
Bản án số 114/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 114/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
