|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2025/DS-PT Ngày 26 tháng 02 năm 2025 Về việc: “Tranh chấp đất đai” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu
Ông Hà Huy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 924/2024 /TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp đất đai”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận bị bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2025/QĐPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền có bà : Lê Thị X, sinh năm 1988 (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Duy Q – Cty luật TNHH A (có mặt).
-
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1966 (có mặt);
Địa chỉ: Thôn T, xã T, Tp ., tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hiệp H, sinh năm 1965, địa chỉ: Số E V, khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 22/5/2020). có mặt
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân thành phố P; vắng mặt
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B; vắng mặt
Ủy ban nhân dân xã T; vắng mặt
Ông Phạm Ngọc Q1, sinh năm 1955; vắng mặt
Ông Diệp Trí P, sinh năm 1976; vắng mặt
Bà Trương Thị H1, sinh năm 1976; vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người kháng cáo: bà Huỳnh Thị T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau.
Nguyên đơn trình bày:
Năm 1974, ông Nguyễn Văn T khai hoang 02 thửa đất ven suối trước nhà ông T, thuộc thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, gồm thửa đất số 617 diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2. Ông T sử dụng ổn định, liên tục 02 thửa đất đến nay.
Trên diện tích đất 73,1m2 có 01 căn nhà diện tích xây dựng là 55,6m2 thuộc sở hữu của ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1 (Bà H1 là cháu ruột của vợ ông T).
Ông T được biết diện tích 178,9m2 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 (đã cập nhật biến động cho bà Huỳnh Thị T1) tại thửa đất số 616 diện tích 512m2; Diện tích 73,1m2 là thửa đất số 617 thuộc quyền sử dụng của ông T nhưng khi nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với diện tích 96m2 lại ghi diện tích 96m2 thuộc thửa đất 617 (cập nhật biến động cho bà Huỳnh Thị T1). Nay ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết:
-Buộc bà Huỳnh Thị T1 giao trả cho ông T diện tích 178,9m2;
-Công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 73,1m2 thuộc thửa đất số 617, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận cho ông T;
-Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 và số AH 389028 cùng ngày 11/7/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Phạm Ngọc Q1.
Trường hợp ông T được Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì ông P, bà H1 và ông T tự thỏa thuận với nhau quyền sử dụng diện tích đất 73,1m2. Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá theo quy định pháp luật.
Bị đơn trình bày:
Vào năm 2007, bà Huỳnh Thị T1 có nhận chuyển nhượng 02 thửa đất của ông Phạm Ngọc Q1 cụ thể là: thửa số 617, tờ bản đồ số 02, diện tích 96m2 và thửa số 616, tờ bản đồ số 02, diện tích 512m2. Bà T1 đã đăng ký biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng 02 thửa đất này ổn định đến nay. Diện tích đất tranh chấp 178,9m2 thuộc thửa đất 616 diện tích 512m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 ngày 11/7/2007, bà T1 đã xây nhà xưởng trên 01 phần diện tích 512m2 vào năm 2007, P1 còn lại là diện tích 178,9m2 hiện tranh chấp là để trống. Trên thửa đất diện tích 73,1m2 hiện nay ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1 đã làm nhà ở trên đất.
Hiện nay 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 ngày 11/7/2007 thuộc thửa đất số 616, diện tích 512m2 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 ngày 11/7/2007 thuộc thửa số 617, tờ bản đồ số 02, diện tích 96m2 nhận chuyển nhượng của ông Q1, bà T1 vẫn chưa làm thủ tục để cấp đổi lại.
Vì vậy, bà Huỳnh Thị T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc Q1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 616, diện tích 512m2 và thửa đất số 617, diện tích 96 m2 do ông Q1 khai hoang từ năm 1989. Ngày 23/3/1992, ông Q1 được Ủy ban nhân dân thị xã P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 327604 đối với thửa số 616, diện tích 512m2 và thửa số 617, diện tích 96m2, cùng với một số thửa đất khác. Năm 2007, ông Q1 tách thửa số 616, diện tích 512m2 và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026; Tách thửa 617, diện tích 96m2 và được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028. Ông Phạm Ngọc Q1 chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 thửa số 616, diện tích 512m2 và thửa số 617, diện tích 96 m2 và đã cập nhật sang tên cho bà T1 ngày 06/11/2007.
Hai thửa đất đang tranh chấp có diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2 theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp đo vẽ ngày 19/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ không nằm trong 02 thửa đất ông Q1 chuyển nhượng cho bà T1. Khi chuyển nhượng 02 thửa đất cho bà T1 thì ông Q1 cũng chỉ ranh đến đường đất, còn phía bên kia đường đất là khu đất trống diện tích 178,9m2 và diện tích 73,1m2 tranh chấp là của ông T. Hiện nay bà T1 cũng chỉ làm kho lạnh đến giáp đường đất.
Từ trước đến nay ông Q1 chưa bao giờ canh tác trên thửa đất diện tích 73,1m2 và thửa đất diện tích 178,9m2. Năm 1992, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q1 cũng không chỉ dẫn đo đạc trên 02 thửa đất diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2, vì ông Nguyễn Văn T là người trực tiếp sử dụng đất. Trên thực địa thì 02 thửa đất ông Q1 chuyển nhượng cho bà T1 không liên quan gì đến 02 thửa đất theo bản đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng Đ. Vì các thửa đất nằm ở vị trí khác nhau. Việc cơ quan Nhà nước ghi số thửa đất thế nào thì ông Q1 không rõ. Hiện nay trên 02 thửa đất theo bản đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp không có tài sản của ông Q1 và bà T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1 trình bày:
Trên diện tích đất 73,1m2 có 01 căn nhà diện tích là 55,6m2 do ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1 xây dựng khoảng năm 2005. Các nội dung còn lại ông P và bà H1 cùng thống nhất với trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P:
Cung cấp ý kiến tại Công văn số 2645/UBND-NC ngày 04/5/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B:
Cung cấp ý kiến tại Công văn số 12088/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 11/12/2023.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T:
Cung cấp ý kiến tại Công văn số 902/UBND ngày 23/8/2023.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33 /2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận quyết định.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
-
Buộc bà Huỳnh Thị T1 phải trả cho ông Nguyễn Văn T diện tích đất 178,9m2, có điểm tọa độ “1, 2, 3, 4, 5, 6, 1” theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020. Đất tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
-
Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 73,1m2 cho ông Nguyễn Văn T. Diện tích đất 73,1m2 có điểm tọa độ “3, 7, 8, 9, 4, 3” theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020. Đất tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật.
Kèm theo bản án là bản sao Bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020.
-
- Hủy một phần Quyết định số 4584/QĐ-UBND ngày 11/7/2007 về phần cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất số 616 và thửa đất số 617;
-
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất 617 diện tích 96m2;
-
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cùng ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất số 616 diện tích 512m2;
-
- Hủy nội dung cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 ngày 06/11/2007 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 đối với thửa đất 617 diện tích 96m2;
-
- Hủy nội dung cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 ngày 06/11/2007 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 đối với thửa đất 616 diện tích 512m2.
-
Bản án còn quyết định về án phí, và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm trong hạn luật định bà Huỳnh Thị T1 có đơn kháng cáo đề nghị toà án phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, các đương sự không hoà giải với nhau về việc giải quyết vụ án, người kháng cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ xác định được; Nguồn gốc diện tích đất 73,1m2 và diện tích 178,9m2, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là do ông T khai hoang năm 1974 và sử dụng ổn định, liên tục đến nay. Trên diện tích đất 73,1m2 có 01 căn nhà diện tích là 55,6m2 thuộc sở hữu của ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1. Ông P và bà H1 thừa nhận được ông T cho xây dựng nhà tạm trên diện tích đất 73,1m2 để ở từ năm 2005 và dến năm 2017 sửa chữa lại thành nhà cấp 4 từ khi làm nhà ở đến nay không ai tranh chấp. Diện tích đất 73,1m2 và diện tích 178,9m2 liền kề với nhau, giữa diện tích 178,9m2 với phần đất bà Huỳnh Thị T1 đang sử dụng làm kho, xưởng cách nhau bằng con đường đất đã có từ trước khi bà Huỳnh Thị T1 nhận chuyển nhượng đất của ông Phạm Ngọc Q1.
[2] Xét kháng cáo của bà Huỳnh Thị T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Huỳnh Thị T1 trình bày vào năm 2007 có nhận chuyển nhượng thửa đất số 616 diện tích 512m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 ngày 11/7/2007 và thửa đất 617 diện tích 96m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 ngày 11/7/2007 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cho ông Phạm Ngọc Q1. Bà T1 đăng ký biến động sang tên ngày 06/11/2007.
Tại biên bản lấy lời khai (Bl 285 ) ông Phạm Ngọc Q1 trình bày 02 thửa đất tranh chấp có diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2 theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp đo vẽ ngày 19/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ không nằm trong 02 thửa đất ông Q1 chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1. Khi chuyển nhượng 02 thửa đất cho bà T1 thì ông Q1 cũng chỉ ranh đến đường đất, còn phía bên kia đường đất là khu đất trống diện tích 178,9m2 và diện tích 73,1m2 tranh chấp là của ông Nguyễn Văn T. Sau khi ông Q1 chuyển nhượng đất cho bà T1 thì ông Q1 có nói bà T1 chừa lại một phần đất để mở rộng đường và ông T cũng chừa lại một phần đất để mở rộng đường. Hiện nay, bà T1 cũng chỉ làm kho lạnh đến giáp đường đất. Từ trước đến nay ông Q1 chưa bao giờ canh tác trên thửa đất diện tích 73,1m2 và thửa đất diện tích 178,9m2. Năm 1992, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q1 cũng không chỉ dẫn đo đạc trên 02 thửa đất diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2, vì ông Nguyễn Văn T là người trực tiếp sử dụng đất.
Theo biên bản hòa giải tranh chấp đất đai thành ngày 07/12/2017 và Báo cáo số 784/BC-UBND ngày 18/9/2018 của Ủy ban nhân dân xã T về kết quả hòa giải đơn tranh chấp đất đai của ông Nguyễn Văn T với ông Phạm Ngọc Q1, bà Huỳnh Thị T1 ( B1 98 và 100) xác định: “Tại buổi hòa giải, ông Đồng Đắc T2 (Trưởng thôn T), ông Phạm Ngọc Q1 và bà Huỳnh Thị T1 đều xác nhận thửa đất số 617, diện tích 96m2 và một phần diện tích đất khoảng 154,6m2 của thửa đất số 616 (diện tích thửa đất số 616 là 512m2), thuộc tờ bản đồ số 02 được gia đình ông T khai hoang và sử dụng ổn định từ trước đến nay, không có ai tranh chấp. Ông Phạm Ngọc Q1 và bà Huỳnh Thị T1 cũng xác nhận phần diện tích đất mà bà Huỳnh Thị T1 đang sử dụng chính là phần diện tích đất ông Phạm Ngọc Q1 đã chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 năm 2007”.
Tại biên bản lời khai ngày 28/10/2019, bà T1 thừa nhận đã xây nhà xưởng trên toàn bộ thửa đất số 616, diện tích 512m2 vào năm 2007. Còn thửa đất số 617 bà T1 để trống, không có tài sản gì trên đất. Vì vào năm 2007, khi bà T1 xây dựng nhà xưởng có con đường đất nhỏ giữa thửa đất số 616 và 617 nên bà T1 không xây dựng nhà xưởng nối liền thửa đất số 616 và 617 được. Đồng thời, bà T1 có cho thêm 02m đất để làm đường.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và Bản đồ hiện trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020 thể hiện: Diện tích 178,9m2 có tứ cận hướng đông giáp diện tích 73,1m2 tranh chấp, hướng tây giáp đường đất, hướng nam giáp đường đất, hướng bắc giáp mương nước. Hiện trạng diện tích 178,9m2 là đất trống; Diện tích 73,1m2 có tứ cận hướng đông giáp đất ông Nguyễn Văn T, hướng tây giáp diện tích 178,9m2 tranh chấp, hướng nam giáp đường bê tông, hướng bắc giáp mương nước. Hiện trạng diện tích 73,1m2 có nhà ở của ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T1 cho rằng con đường đất là nằm trên thửa đất số 616 và do bà T1 tự mở đường để người dân địa phương đi lại. Bà T1 chỉ xây dựng nhà xưởng trên một phần thửa đất số 616 đến giáp đường đất, phần diện tích còn lại là 178,9m2 bà T1 đang để trống (hiện nay ông T tranh chấp). Diện tích 73,1m2 hiện đang có nhà ở của ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1 là nằm trong thửa đất số 617. Do bà T1 đã nhận chuyển nhượng 02 thửa đất số 616 và 617 của ông Phạm Ngọc Q1 nên không đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Văn T.
[3] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và Bản đồ hiện trạng khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020 thể hiện: Diện tích 178,9m2 có tứ cận hướng đông giáp diện tích 73,1m2 tranh chấp, hướng tây giáp đường đất, hướng nam giáp đường đất, hướng bắc giáp mương nước. Hiện trạng diện tích 178,9m2 là đất trống; Diện tích 73,1m2 có tứ cận hướng đông giáp đất ông Nguyễn Văn T, hướng tây giáp diện tích 178,9m2 tranh chấp, hướng nam giáp đường bê tông, hướng bắc giáp mương nước. Hiện trạng diện tích 73,1m2 có nhà ở của ông Diệp Trí P và bà Trương Thị H1.
[4] Tại Công văn số 902/UBND ngày 23/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã T xác định: Thửa đất số 616 diện tích 512m2 và thửa đất số 617 diện tích 96m2, đất trồng lúa, do ông Phạm Ngọc Q1 đăng ký theo Sổ mục kê, đến ngày 23/3/1992, được Ủy ban nhân dân thị xã P (nay là thành phố P) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 327604 cho hộ ông Phạm Ngọc Q1. Thửa đất số 615, diện tích 96m2, đất lúa, theo Sổ mục kê không ai đăng ký, không quy chủ cho ai, không thuộc quỹ đất 5%. Nhưng thực tế hộ ông Phạm Ngọc Q1 quản lý, sử dụng thửa đất số 616/512m2 và thửa đất số 615/96m2. Đến năm 2007, ông Q1 chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 thửa đất 616 và thửa đất 617 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp). Bà Huỳnh Thị T1 tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất số 616 và thửa đất số 615 (như hộ ông Q1 sử dụng trước khi chuyển nhượng) từ lúc nhận chuyển nhượng đến nay.
Thửa đất số 617 diện tích 96m2, đất trồng lúa thì do ông Nguyễn Văn Thanh quản L, sử dụng từ trước ngày 15/10/1993 đến nay không ai tranh chấp, kể cả ông Phạm Ngọc Q1.
Theo bản đồ số 299/TTg: Thửa đất số 615, thửa đất số 616, thửa đất số 617 nằm liền kề nhau. Thửa đất số 615 và thửa đất số 617 diện tích giống nhau là 96m2, đất lúa. Thửa đất số 615, thửa đất số 616, thửa đất số 617 không chồng lấn.
Đối với diện tích đất 178,9m2, được xác định thuộc thửa 616 nhưng ông Phạm Ngọc Q1 xác định từ trước đến nay không quản lý sử dụng. Khi ông Q1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị T1 thì chỉ chuyển nhượng phần đất đến giáp đường đất, không chuyển nhượng diện tích 178,9m2 đất cho bà T1. Năm 1992, khi đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Q1 cũng không chỉ dẫn đo đạc trên 02 thửa đất diện tích 73,1m2 và diện tích 178,9m2, vì ông Nguyễn Văn T là người trực tiếp sử dụng đất. Hiện trạng trên diện tích đất 178,9m2 hiện nay là đất trống. Vì vậy, Ủy ban nhân dân thị xã P (nay là thành phố P) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 327604 ngày 23/3/1992, cho hộ ông Phạm Ngọc Q1, đến ngày 11/7/2007 Ủy ban nhân dân thành phố P cấp đổi thành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất 616 diện tích 512m2 (trong đó có phần diện tích 178,9m2 đất tranh chấp) là không đúng đối tượng và nguồn gốc đất.
Trường hợp bà Huỳnh Thị T1 có căn cứ cho rằng ông Phạm Ngọc Q1 chuyển nhượng cho bà T1 không đủ diện tích đất như thỏa thuận thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét. Cũng theo sơ đồ vị trí thửa đất theo trích lục bản đồ địa chính 920 thấy rằng: Hiện nay thửa đất bà T1 nhận chuyển nhượng của ông Q1 có 02 mặt tiếp giáp với 02 diện tích đất của bà T1 có các diện tích là 153m2 và 480m2. Đồng thời giữa 02 diện tích đất tranh chấp có một con đường đi.
Từ đánh giá nêu trên xét thấy; nguyên đơn ông Nguyễn Văn T yêu cầu công nhận diện tích 73,1m2 thuộc quyền sử dụng của ông T và yêu cầu bà Huỳnh Thị T1 trả lại cho ông Nguyễn Văn T phần diện tích 178,9m2 là có cơ sở chấp nhận. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có cơ sở. Do vậy đơn kháng cáo của bà T1 không có căn cứ được chấp nhận.
[5] Về án phí: bà Huỳnh Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 248 BLTT dân sự.
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị T1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33 /2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
-
- Buộc bà Huỳnh Thị T1 phải trả cho ông Nguyễn Văn T diện tích đất 178,9m2, có điểm tọa độ “1, 2, 3, 4, 5, 6, 1” theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020. Đất tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
-
- Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 73,1m2 cho ông Nguyễn Văn T. Diện tích đất 73,1m2 có điểm tọa độ “3, 7, 8, 9, 4, 3” theo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020. Đất tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật.
Kèm theo bản án là bản sao Bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành ngày 19/8/2020.
-
- Hủy một phần Quyết định số 4584/QĐ-UBND ngày 11/7/2007 về phần cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất số 616 và thửa đất số 617;
-
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất 617 diện tích 96m2;
-
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp cùng ngày 11/7/2007 cho ông Phạm Ngọc Q1 đối với thửa đất số 616 diện tích 512m2;
-
- Hủy nội dung cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 ngày 06/11/2007 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389028 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 đối với thửa đất 617 diện tích 96m2;
-
- Hủy nội dung cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Huỳnh Thị T1 ngày 06/11/2007 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 389026 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 11/7/2007 đối với thửa đất 616 diện tích 512m2.
-
-
Về án phí:
-
Bà Huỳnh Thị T1 phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000 đồng bà T1 đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0000363 ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận nay được chuyển thành tiền án phí phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Xuân Thành |
Bản án số 114/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đất đai
- Số bản án: 114/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952; Người đại diện theo ủy quyền có bà : Lê Thị X, sinh năm 1988 2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1966
