Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2025/DS-PT

Ngày: 12-02-2025

V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 648/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 158/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 716/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh X, sinh năm 1966;

    Địa chỉ: Số D, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1958;

      Địa chỉ: Số G, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

    2. Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1956;

      Địa chỉ: Số C, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

    3. Bà Nguyễn Thủy T, sinh năm 1973;

      Địa chỉ: Số G, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1972, địa chỉ: Số D Đường N, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 8 năm 2024).

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972;

      Địa chỉ: Số D, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

    2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1961;

      Địa chỉ: Số A, Quốc lộ A, khu phố T, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của bà T2: Bà Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1969; Địa chỉ: 16/12/13, đường số A, Phường H, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản uỷ quyền ngày 16/01/2025).

    3. Bà Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1969;

      Địa chỉ: Số A, đường số A, Phường H, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

    4. Bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1971;

      Địa chỉ: Số B, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

    5. Văn phòng C

      Địa chỉ: Số G, đường Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

    6. Bà Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1981;

      Địa chỉ: Số D, đường L, phường D thành phố T tỉnh Long An.

    7. Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1996;

      Địa chỉ: Số D, đường P, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B.

(Ông X, ông B, ông H, bà T, bà T3, ông T1, bà Đ có mặt;

Các đương sự còn lại có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn B1 (1932-2016) và bà Nguyễn Thị Đ (1932-2021) có bảy người con chung: ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thủy T. Ông B1 chết, không để lại di chúc. Năm 2021, bà Đ chết, bà T và ông H cho rằng bà Đ có để lại di chúc với nội dung để lại phần tài sản của bà trong khối tài sản chung của vợ chồng (bà Đ và ông B1) là quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2 xã K thị xã T (nay là phường K thành phố T) cho hai người con là ông H và bà T. Tuy nhiên, di chúc mà bà T và ông H nêu ra không phù hợp vì tình trạng sức khỏe của bà Đ tại thời điểm lập di chúc không còn minh mẫn và việc lập di chúc chỉ có bà T, ông H biết còn những người con khác chưa từng nghe bà Đ có ý nguyện lập di chúc. Do đó, ông X yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu "Di chúc" được lập tại Văn phòng C.

Vì di chúc nói trên không có hiệu lực pháp luật nên ông X đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật cho bảy người con. Và khi chia di sản thì phải xem xét đến công sức của ông X trong việc giữ gìn bảo quản di sản và đóng thuế.

Di sản thừa kế được xác định gồm: Quyền sử dụng đất thuộc các thửa 14, 15, 21 tờ bản đồ số 2-7 và thửa số 278 tờ bản đồ số 2 phường K, thành phố T, tỉnh Long An.

Ông X đề nghị được nhận 600m² đất thổ để làm nhà ở vì trong tất cả anh chị em, chỉ ông là chưa có nhà ở ổn định. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh X đề nghị Tòa án cho ông được nhận tiền, không nhận quyền sử dụng đất vì ông không có khả năng trả lại tiền cho những người khác, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc gìn giữ di sản thừa kế. Đề nghị Tòa án xem xét cho ông được quyền lưu cư trong khoảng thời gian từ 06 tháng đến 09 tháng sau khi ông nhận đủ phần tiền tương ứng với kỷ phần thừa kế mà ông được nhận. Ngoài ra, ông không yêu cầu người nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa số 15 phải hoàn lại cho ông giá trị nhà và các công trình trên phần đất đó.

Trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Văn B đề nghị Tòa án xác định tính hợp pháp của bản di chúc mà mẹ của ông là bà Đ lập. Trong trường hợp di chúc hợp lệ thì ông đề nghị công nhận di chúc, phần di sản của cha của ông và phần di sản không có trong di chúc thì chia theo pháp luật. Trường hợp di chúc không hợp pháp thì chia theo pháp luật và ông đề nghị bán di sản để chia, không ai được quyền nhận đất.

Tại phiên hòa giải ngày 21 tháng 8 năm 2024, ông Nguyễn Phi H trình bày: Việc mẹ của ông lập di chúc chia di sản phần của mẹ cho ông và bà T, ông chỉ được biết khi bà T thông báo với ông và bà T có đưa cho ông xem bản di chúc đó, ông chỉ xem qua rồi giao lại cho bà T cất giữ chứ ông không biết trình tự, thủ tục làm di chúc như thế nào, ngoại trừ việc ông nghe bà T nói đã đưa mẹ ông đi làm giám định và lập di chúc rồi cho ông xem bản di chúc như đã nói. Ông đề nghị Tòa án công nhận di chúc của mẹ ông và chia phần di sản của cha ông cùng với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287 theo quy định của pháp luật và ông yêu cầu nhận tiền.

Trong quá trình tố tụng, bà Nguyễn Thủy T khẳng định do bà là người trực tiếp nuôi mẹ nên khi mẹ có nguyện vọng làm di chúc chia cho ông H và con trai của bà thì bà không đồng ý, bởi con của bà còn nhỏ nên mẹ của bà đã đồng ý cho bà và ông H thừa kế phần tài sản của mẹ trong khối tài sản chung của cha mẹ là quyền sử dụng đất thuộc các thửa 14, 15 và 21 đã nêu. Qua nhiều người quen, bà đã hỏi thủ tục và đã đưa mẹ của bà đi giám định tại Trung tâm Giám định Y khoa tỉnh L và đến Văn phòng C để bà Đ thực hiện việc lập di chúc. Trình tự, thủ tục lập di chúc là do Văn phòng C thực hiện, họ yêu cầu như thế nào thì bà làm theo. Do đó, bà không đồng ý việc ông X, bà T2, bà T3 và bà T4 cho rằng bản di chúc mà mẹ của bà lập không đúng quy định. Bà đề nghị Tòa án công nhận di chúc và chia phần di sản thừa kế của cha đối với các thửa số 14, 15 và 21 theo pháp luật. Còn thửa đất số 287 thì chia theo pháp luật. Bà nhận tiền, tương ứng với phần bà được nhận.

Bà Nguyễn Xuân T3 trình bày: Bà T cho rằng bà T nuôi mẹ nhưng thực chất bà có nhiều lần nghe mẹ của bà nói rằng "ăn cơm chúa thì múa tối ngày", có nghĩa là mẹ của bà phải làm việc cho bà T, phải phục vụ, dọn dẹp khi chồng của bà T mời khách đến nhà liên hoan, tiệc tùng. Nhưng khi mẹ của bà bệnh thì bà là người phải lo. Bà thống nhất với ý kiến của ông X, đề nghị tuyên vô hiệu di chúc và chia thừa kế theo pháp luật. Bà để ông X hưởng phần di sản thừa kế của mẹ (tức là một phần hai kỷ phần thừa kế của bà), phần còn lại, bà đề nghị được nhận.

Bà Nguyễn Thị T2 và bà Nguyễn Thị Thu T4 trình bày: thống nhất với yêu cầu của ông X, đề nghị tuyên vô hiệu di chúc mà bà T cung cấp và chia thừa kế theo pháp luật. Cả hai bà cũng như bà T3 đồng ý để ông X hưởng phần di sản thừa kế của mẹ (tức là một phần hai kỷ phần thừa kế của mỗi bà), phần còn lại, các bà đề nghị được nhận.

Tại phiên hòa giải ngày 21 tháng 8 năm 2024, bà Nguyễn Thị Thanh T5 trình bày: ông Nguyễn Văn B1 là ông ngoại của bà, khi ông Ba bị tai nạn giao thông chết thì được bồi thường số tiền 137.000.000 đồng. Bà là người giữ số tiền đó. Tuy nhiên, sau đám tang, trừ đi các chi phí thì còn lại là 104.344.000 đồng, số tiền này, hiện bà đang giữ. Do đó, nếu như các dì và các cậu của bà yêu cầu thì bà sẽ giao lại cho ai quản lý, chứ bản thân bà, với vai trò là cháu ngoại, bà cũng đã chi tiền để cúng giỗ ông, bà nhưng bà không tính.

Tại phiên hòa giải ngày 21 tháng 8 năm 2024, tất cả đều đồng ý số tiền 104.344.000 đồng mà bà T5 đang giữ sẽ được chia đều cho bảy người con. Đồng thời, không yêu cầu chia các tài sản trên các thửa đất nói trên.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thanh X yêu cầu Tòa án vô hiệu Di chúc được Văn phòng C lập vào ngày 25 tháng 01 năm 2021, bởi những lý do: trước nhất, bà Nguyễn Thị Đ lập di chúc khi tuổi đã quá cao và tình trạng sức khỏe tại thời điểm đó đã không thể đảm bảo để thể hiện sự thống nhất ý chí của bà trong việc lập di chúc và hơn thế nữa, bà Nguyễn Thị Đ là người biết chữ nhưng khi lập di chúc thì lại điểm chỉ, điều này, thể hiện là tình trạng sức khỏe của bà Đ không tốt nên không thể tự ký tên, thậm chí, có thể hiểu đây là biểu hiện của việc thiếu sự tự nguyện của bà Đ. Tiếp theo, việc lập di chúc, theo thủ tục bắt buộc phải có bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong khi thực hiện việc công chứng di chúc, Văn phòng C đã không thể nhận được bản chính, vì từ trước đến nay, ông X là người luôn giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, trong bản di chúc có sự sai sót về số của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tóm lại, Văn phòng C đã không tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật công chứng nên bản Di chúc không phát sinh hiệu lực. Do đó, đề nghị Tòa án chia toàn bộ di sản thừa kế của ông B1, bà Đ theo pháp luật, có xem xét đến công sức giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh X. Mong Hội đồng xét xử cân nhắc cho ông X nhận tiền vì khả năng thanh toán tiền cho các đồng thừa kế khác của ông X là hoàn toàn không thể. Tuy nhiên, cũng đề nghị Hội đồng xét xử lưu ý đến yêu cầu được lưu cư nhằm tạo điều kiện cho ông X cùng vợ con có thể thuận lợi hơn trong việc tìm nơi ở mới khi nhận đủ tiền mà người thừa kế hoàn lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 158/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã căn cứ vào các điều 612, 613, 614, 624, 630, 635, 636, 650 của Bộ luật dân sự; Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh X về việc vô hiệu Di chúc do bà Nguyễn Thị Đ lập tại Văn phòng C vào ngày 25 tháng 01 năm 2021.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh X, ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T.
    1. Ông Nguyễn Phi H được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 287 tờ bản đồ số 2 phường T, thành phố T, tỉnh Long An (theo Mảnh trích đo địa chính số 479-2024 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 20 tháng 3 năm 2024 và được Chi nhánh Văn phòng Đ2 tại thành phố T duyệt ngày 27 tháng 3 năm 2024).
    2. Bà Nguyễn Thủy T được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An An (theo Mảnh trích đo địa chính số 1494-2023 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 29 tháng 8 năm 2023 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2023).
    3. Ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T được quyền thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất và thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
    4. Bà Nguyễn Thị Thanh T5 giao cho bà Nguyễn Thủy T 104.344.000 đồng.
    5. Bà Nguyễn Thủy T hoàn trả tiền cho những người thừa kế khác. Cụ thể:
      • Ông Nguyễn Phi H: 461.176.662,5 đồng;
      • Ông Nguyễn Thanh X: 853.156.270,5 đồng;
      • Ông Nguyễn Văn B: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Thị T2: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Xuân T3: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Thị Thu T4: 511.893.762,5 đồng.
    6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành.
    7. Ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Thị Đ được quyền lưu cư trong ngôi nhà trên phần đất thuộc thửa số 15 tờ bản đồ số 2-7 trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày bà Nguyễn Thủy T trả cho ông X đủ 853.156.270,5 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Mỗi người thừa kế phải chịu 8.257.143 đồng. Cụ thể:
    • Ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, mỗi người trả cho bà Nguyễn Thủy T 8.257.143 đồng.
    • Bà Nguyễn Xuân T3 trả cho ông Nguyễn Thanh X 8.257.143 đồng.
    • Bà Nguyễn Thị Thu T4 trả cho ông Nguyễn Thanh X 1.971.428 đồng, và trả cho ông Nguyễn Thanh X 6.285.715 đồng.
  4. Về án phí:

    Miễn án phí sơ thẩm cho ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T2.

    Bà Nguyễn Thủy T chịu án phí sơ thẩm là 71.876.640 đồng. Chuyển 3.300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001936 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thủy T còn phải nộp 68.576.640 đồng.

    Ông Nguyễn Thanh X chịu án phí sơ thẩm là 37.894.688 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông X đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001498 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm và chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông X đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001497 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh X phải nộp 32.594.688 đồng.

    Bà Nguyễn Xuân T3 chịu án phí sơ thẩm là 24.475.751 đồng. Chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T3 đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000692 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Xuân T3 phải nộp 19.475.571 đồng.

    Bà Nguyễn Thị Thu T4 chịu án phí sơ thẩm là 24.475.751 đồng. Chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T4 đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000691 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thu T4 phải nộp 19.475.571 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 09/10/2024, bà Nguyễn Thủy T kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng sửa một phần nội dung của bản án sơ thẩm, cho bà được nhận giá trị di sản thừa kế bằng tiền, bà không đồng ý nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và thanh toán giá trị di sản bằng tiền cho các đồng thừa kế.

Ngày 09/10/2024, ông Nguyễn Phi H kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng sửa một phần nội dung của bản án sơ thẩm, cho ông được nhận giá trị di sản thừa kế bằng tiền, ông không đồng ý nhận di sản thừa kế bằng hiện vật và thanh toán giá trị di sản bằng tiền cho các đồng thừa kế.

Ngày 14/10/2024, ông Nguyễn Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng sửa một phần nội dung của bản án sơ thẩm không chấp nhận cho ông Nguyễn Thanh X được nhận 2/3 công sức đóng góp.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Nguyễn Anh T1 trình bày: Ông H và bà T không đồng ý nhận quyền sử dụng đất, ông X là người đang sử dụng đất nên giao cho ông X là phù hợp, đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông H và bà T.

Ông Nguyễn Văn B trình bày: Ông đề nghị chia lại công sức đóng góp cho ông X, ông X không có công sức đóng góp gì.

Ông Nguyễn Thanh X trình bày: Ông là người trực tiếp sử dụng đất, đóng thuế, gìn giữ di sản nên Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông công sức đóng góp là phù hợp, do ông H và bà T được chia thừa kế nhiều nên ông không có khả năng nhận đất để thanh toán lại giá trị di sản cho hàng thừa kế, đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Phi H, bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Văn B nhận thấy:

Ông Nguyễn Văn B1 (sinh năm 1932 – chết năm 2016) và bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1932 – chết năm 2021) có bảy người con chung gồm: ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thủy T.

Do không thống nhất về việc phân chia di sản thừa kế của ông B1, bà Đ và cho rằng Văn bản di chúc mà bà Nguyễn Thủy T cung cấp là di chúc không hợp pháp nên ông Nguyễn Thanh X khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu di chúc mà bà Nguyễn Thị Đ đã lập tại Văn phòng C vào ngày 25 tháng 01 năm 2021, chia theo pháp luật di sản thừa kế là quyền sử dụng các thửa đất số 14, 15 và 21, tờ bản đồ số 2-7, phường T, thành phố T, tỉnh Long An.

Bà Nguyễn Thủy T và ông Nguyễn Phi H có yêu cầu phản tố, yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An và số tiền 104.344.000 đồng do người gây ra tai nạn giao thông cho ông Nguyễn Văn B1 bồi thường mà bà Nguyễn Thị Thanh T5 (con gái của bà Nguyễn Thị T2) đang giữ.

Về diện và hàng thừa kế, tất cả đương sự thống nhất xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ là bảy người con gồm: ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thủy T.

Về di sản thừa kế, các đồng thừa kế thống nhất xác định di sản thừa kế gồm quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7, quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An và số tiền 104.344.000 đồng do người gây ra tai nạn giao thông cho ông Nguyễn Văn B1 bồi thường. Cây trồng và các công trình trên các phần diện tích đất đã nêu không yêu cầu giải quyết.

Bản án sơ thẩm chia thừa kế như sau:

Theo kết quả định giá, thể hiện tại Chứng thư thẩm định giá số 190/16/05/2024/TĐG LA-BĐS ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Công ty cổ phần T6, phần đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21, tờ bản đồ số 2-7, có tổng giá trị là 5.253.452.000 đồng (Như vậy ½ phần quyền sử dụng đất các thửa số 14, 15 và 21 của bà Nguyễn Thị Đ có giá trị là 2.626.726.000 đồng). Phần quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An có giá trị là 1.364.080.100 đồng.

Theo di chúc của bà Đ thì ½ phần quyền sử dụng đất các thửa số 14, 15 và 21 của bà Nguyễn Thị Đ có giá trị là 2.626.726.000 đồng chia cho ông H và bà T mỗi người ½ là 1.313.363.000 đồng.

Tổng giá trị phần di sản thừa kế theo pháp luật của ông B1 và bà Đ là 4.095.150.100 đồng sẽ được chia thành tám kỷ phần, tương ứng với một kỷ phần sẽ là 511.893.762,5 đồng. Mỗi người trong bảy người thừa kế sẽ được nhận số tiền là 511.893.762,5 đồng. Dành một kỷ phần để cho ông X và bà T vì có công sức đóng góp (Ông X được hưởng hai phần ba tương ứng với 341.262.508 đồng, bà T được hưởng 1/3 tương ứng với 170.631.254 đồng).

Như vậy, những người thừa kế của ông B1 và bà Đ sẽ nhận phần thừa kế của mình tương ứng với số tiền như sau:

  • Ông Nguyễn Phi H: 1.825.256.762,5 đồng.
  • Bà Nguyễn Thủy T: 1.995.888.016,5 đồng.
  • Ông Nguyễn Thanh X: 853.156.270,5 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4, mỗi người được hưởng 511.893.762,5 đồng.

Ông Nguyễn Phi H được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An (theo Mảnh trích đo địa chính số 479-2024 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 20 tháng 3 năm 2024 và được Chi nhánh Văn phòng Đ2 tại thành phố T duyệt ngày 27 tháng 3 năm 2024).

Bà Nguyễn Thủy T được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 14, 15 và 21, tờ bản đồ 2-7, phường T, thành phố T, tỉnh Long An An (theo Mảnh trích đo địa chính số 1494-2023 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 29 tháng 8 năm 2023 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2023).

Bà Nguyễn Thủy T nhận số tiền 104.344.000 đồng từ bà Nguyễn Thị Thanh T5 để hoàn trả cho các đồng thừa kế khác.

Bà Nguyễn Thủy T hoàn trả tiền cho những người thừa kế khác như sau:

  • Ông Nguyễn Phi H: 461.176.662,5 đồng.
  • Ông Nguyễn Thanh X: 853.156.270,5 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn B: 511.893.762,5 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị T2: 511.893.762,5 đồng.
  • Bà Nguyễn Xuân T3: 511.893.762,5 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thu T4: 511.893.762,5 đồng.

Xét thấy:

Đối với Bản di chúc do bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Văn phòng C là bản di chúc được lập theo trình tự, thủ tục phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật công chứng. Nguyên đơn ông X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T2, bà T3, bà T4 cho rằng việc lập di chúc không phù hợp với ý chí, nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Đ và việc công chứng của Văn phòng C không đảm bảo theo trình tự, thủ tục do Luật công chứng quy định nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, Di chúc mà bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Văn phòng C có hiệu lực nên phần tài sản của bà Nguyễn Thị Đ trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn B1 được định đoạt trong di chúc là ½ quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21, tờ bản đồ số 2-7, phường T, thành phố T, tỉnh Long An sẽ được chia theo di chúc; một phần hai quyền sử dụng các thửa đất số 14, 15 và 21 là tài sản của ông Nguyễn Văn B1 được chia theo pháp luật; quyền sử dụng đất thuộc thửa 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An và số tiền 104.344.000 đồng được chia theo pháp luật.

Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Thanh X về công sức giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế là phù hợp. Bởi vì, trong suốt thời gian qua, ông X là người thực tế đang sống trên nhà thuộc phần đất là di sản thừa kế của ông B1, bà Đ. Ông X thực hiện việc trông coi, chăm sóc, đóng thuế và bảo vệ quyền sử dụng di sản đối với người thứ ba. Bà Nguyễn Thủy T là người đã trực tiếp nuôi mẹ và sẽ là người tiếp tục giữ gìn, bảo quản di sản và đang thực hiện việc thờ cúng cha mẹ. Do đó, Bản án sơ thẩm dành một kỷ phần để chia cho ông X và bà T vì có công sức đóng góp (Ông X được hưởng hai phần ba tương ứng với 341.262.508 đồng, bà T được hưởng 1/3 tương ứng với 170.631.254 đồng) là phù hợp.

Do không có ai trong các đồng thừa kế muốn nhận quyền sử dụng đất mà chỉ yêu cầu được nhận tiền nhưng ông Nguyễn Phi H là người đã và đang sử dụng phần đất thuộc thửa số 287, tờ bản đồ số 2, phường T, thành phố T, tỉnh Long An nên việc giao quyền sử dụng đất thửa 287 cho ông Nguyễn Phi H là phù hợp. Hơn nữa, so với các đồng thừa kế khác, phần tài sản mà ông H được nhận nhiều hơn và khi nhận quyền sử dụng phần đất này, ông H cũng không phải hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế khác. Điều này, đảm bảo được việc giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế. Thêm vào đó, ông H đã từng sử dụng đất, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất và ông H không yêu cầu về công sức giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế nên việc giao quyền sử dụng đất cho ông H còn có ý nghĩa đảm bảo tính ổn định cho việc thu hoa lợi, lợi tức của ông H.

Đối với phần diện tích đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21, tờ bản đồ số 2-7, phường T, thành phố T, tỉnh Long An, qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và theo Mảnh trích đo địa chính số 1494-2023 ngày 29 tháng 8 năm 2023 do Công ty TNHH Đ1 lập, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2023, cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa hiện trạng sử dụng so với số liệu thể hiện trên bản đồ địa chính và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, trong thực tế giữa các phần diện tích đất của thửa số 14, 15 và 21 không thể hiện ranh giới rõ ràng nên việc chia quyền sử dụng đất thuộc các thửa cho nhiều người trong trường hợp này sẽ khó thực hiện. Do đó, chỉ có thể giao quyền sử dụng đất cho một người mà người đó vừa có điều kiện, có khả năng hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế khác vừa có thể bảo quản, giữ gìn di sản, hoặc hạn chế ít nhất việc phải chuyển nhượng di sản cho người khác. Xét về điều kiện kinh tế và phần tài sản được hưởng trong vụ án, thì bà Nguyễn Thủy T là một trong hai người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc của bà Đ và bà T cũng là người có điều kiện kinh tế tốt hơn các đồng thừa kế khác nên bà T có khả năng hoàn tiền cho các đồng thừa kế. Điều này cũng phù hợp với ý chí của bà Nguyễn Thị Đ khi định đoạt phần tài sản của bà đối với các thửa đất số 14, 15 và 21 trong Di chúc.

Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy việc chia thừa kế của Bản án sơ thẩm là phù hợp nên kháng cáo của ông Nguyễn Phi H, bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Văn B không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An, Ủy ban nhân dân Phường C1, thành phố T, tỉnh Long An, Tập đoàn C2 (V), ông Nguyễn Văn B2, bà Nguyễn Thị Thu T4, bà Nguyễn Thị Thanh T5, ông Nguyễn Hoàng M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  3. [3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, thấy rằng:
    1. [3.1] Ông Nguyễn Văn B1 (1932-2016) và bà Nguyễn Thị Đ (1932-2021). Hàng thừa kế thứ nhất của ông B1 và bà Đ, gồm có bảy người con chung:
      1. Ông Nguyễn Phi H,
      2. Ông Nguyễn Văn B,
      3. Bà Nguyễn Thị T2,
      4. Ông Nguyễn Thanh X,
      5. Bà Nguyễn Xuân T3,
      6. Bà Nguyễn Thị Thu T4,
      7. Bà Nguyễn Thủy T.
    2. Do không thống nhất về việc phân chia di sản thừa kế và cho rằng văn bản di chúc mà bà Nguyễn Thủy T cung cấp là di chúc không hợp pháp nên ông Nguyễn Thanh X khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu di chúc mà bà Nguyễn Thị Đ đã lập tại Văn phòng C vào ngày 25 tháng 01 năm 2021, chia theo pháp luật di sản thừa kế là quyền sử dụng các thửa đất số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thủy T và ông Nguyễn Phi H có yêu cầu phản tố, yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287 tờ bản đồ số 2 và phần tiền do người gây ra tai nạn giao thông cho ông Nguyễn Văn B1 bồi thường mà bà Nguyễn Thị Thanh T5 (con gái của bà Nguyễn Thị T2) đang giữ. Theo quy định tại Điều 25, Đều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
    3. [3.2] Về di sản thừa kế của ông B1 và bà Đ:

      Các đồng thừa kế thống nhất xác định di sản thừa kế của ông B1 và bà Đ gồm quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ 2-7, thửa số 287 tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại phường T, thành phố T, tỉnh Long An và số tiền bồi thường là 104.344.000 đồng. Cây trồng và các công trình trên các phần diện tích đất đã nêu không yêu cầu giải quyết.

    4. [4] Xét tờ di chúc của bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 25 tháng 01 năm 2021 có nội dung: “để lại ½ tài sản của bà Đ trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn B1 gồm thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An cho bà Nguyễn Thủy T và ông Nguyễn Phi H được trọn quyền thừa hưởng”.
      1. [4.1] Thấy rằng, bản Di chúc do bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Văn phòng C là bản di chúc được lập theo trình tự, thủ tục và nội dung di chúc phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật công chứng. Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà T2, bà T3, bà T4 cho rằng việc lập di chúc không phù hợp với ý chí, nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Đ và việc công chứng của Văn phòng C không đảm bảo theo trình tự, thủ tục do Luật công chứng quy định nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, không có cơ sở đề chấp nhận yêu cầu vô hiệu di chúc của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tờ di chúc do bà Đ lập có hiệu lực là có căn cứ.
      2. [4.2] Do Di chúc của bà Nguyễn Thị Đ lập ngày 25 tháng 01 năm 2021 tại Văn phòng C có hiệu lực nên phần tài sản của bà Nguyễn Thị Đ trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn B1 được định đoạt trong di chúc là một phần hai quyền sử dụng đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An của bà Đ sẽ được chia theo di chúc; một phần hai quyền sử dụng các thửa đất đã nêu là tài sản của ông Nguyễn Văn B1 được chia theo pháp luật;
      3. Quyền sử dụng đất thuộc thửa 287 tờ bản đồ số 2 phường T, thành phố T, tỉnh Long An và 104.344.000 đồng của bà Đ và ông B1 không có di chúc sẽ được chia theo pháp luật.

      4. [4.3] Theo kết quả định giá, thể hiện tại Chứng thư thẩm định giá số 190/16/05/2024/TĐG LA-BĐS ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Công ty Cổ phần T6, phần đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7, có tổng giá trị là 5.253.452.000 đồng. Bà Đ và ông B1 mỗi người được ½ giá trị tài sản là 2.626.726.000 đồng.
      5. Phần quyền sử dụng đất thuộc thửa số 287 tờ bản đồ số 2 phường T, thành phố T, tỉnh Long An có giá trị là 1.364.080.100 đồng (theo Chứng thư thẩm định giá số 190/16/05/2024/TĐG LA-BĐS ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Công ty Cổ phần T6).

        Tổng giá trị di sản của ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị Đ được chia theo pháp luật có giá trị: 2.626.726.000 đồng + 1.364.080.100 đồng + 104.344.000 đồng = 4.095.150.100 đồng.

      6. [4.4] Tòa án cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Đ theo di chúc, theo đó ông H và bà T mỗi người được nhận 2.626.726.000 đồng : 2 = 1.313.363.000 đồng.
      7. Chia giá trị phần di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông B1 và bà Đ tương ứng với số tiền 4.095.150.100 đồng : 8 = 511.893.762,5 đồng.

        Hàng thừa kế của ông B1 và bà Đ mỗi người được nhận tương ứng với một kỷ phần thừa kế là 511.893.762,5 đồng. Đối với kỷ phần thừa kế 511.893.762,5 đồng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông X và bà T, ông X được hưởng hai phần ba (tương ứng với 341.262.508 đồng), bà T được hưởng một phần ba (tương ứng với 170.631.254 đồng).

      8. [4.5] Như vậy, những người thừa kế của ông B1 và bà Đ sẽ nhận phần thừa kế của của mình tương ứng với số tiền như sau:
        • Ông Nguyễn Phi H được chia thừa kế theo pháp luật và di chúc: 511.893.762,5 đồng + 1.313.363.000 đồng = 1.825.256.762.5 đồng.
        • Bà Nguyễn Thủy T được chia thừa kế theo pháp luật, theo di chúc và được hưởng công sức đóng góp, gìn giữ tài sản: 511.893.762,5 đồng + 1.313.363.000 đồng + 170.631.254 đồng = 1.995.888.016,5 đồng.
        • Ông Nguyễn Thanh X được chia thừa kế theo pháp luật và được hưởng công sức đóng góp, gìn giữ tài sản: 511.893.762,5 đồng + 341.262.508 đồng = 853.156.270,5 đồng.
        • Ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 được chia thừa kế theo pháp luật, mỗi người được hưởng 511.893.762,5 đồng.
      9. [5] Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông X công sức đóng góp với số tiền 341.262.508 đồng. Ông B không đồng ý, kháng cáo yêu cầu tính lại công sức đóng góp cho ông X.
      10. Thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông Nguyễn Thanh X về công sức giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế với số tiền 341.262.508 đồng là phù hợp. Bởi vì, trong suốt thời gian qua, ông X là người thực tế đang sống trên nhà thuộc phần đất là di sản thừa kế của ông B1, bà Đ. Ông X thực hiện việc trông coi, chăm sóc, đóng thuế và bảo vệ quyền sử dụng di sản đối với người thứ ba. Bà Nguyễn Thủy T là người đã trực tiếp nuôi mẹ và sẽ là người tiếp tục giữ gìn, bảo quản di sản và đang thực hiện việc thờ cúng cha mẹ, chia cho bà T số tiền 170.631.254 đồng. Do vậy, để dung hòa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, cần trích trong phần di sản thừa kế được chia theo pháp luật một phần để chi cho ông X và bà T là có căn cứ.

        Do đó không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn B.

      11. [6] Ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T kháng cáo không đồng ý nhận di sản thừa kế bằng quyền sử dụng đất, yêu cầu nhận bằng tiền, thấy rằng:
        1. [6.1] Do không có ai trong các đồng thừa kế muốn nhận quyền sử dụng đất mà chỉ yêu cầu được nhận tiền nhưng ông Nguyễn Phi H là người đã và đang sử dụng phần đất thuộc thửa số 287 tờ bản đồ số 2 phường T, thành phố T, tỉnh Long An nên việc giao quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Phi H là phù hợp. Hơn nữa, so với các đồng thừa kế khác, phần tài sản mà ông H được nhận nhiều hơn và khi nhận quyền sử dụng phần đất này, ông H cũng không phải hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế khác. Điều này, đảm bảo được việc giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế. Thêm vào đó, ông H đã từng sử dụng đất, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất và ông H không yêu cầu về công sức giữ gìn, bảo quản di sản thừa kế nên việc giao quyền sử dụng đất cho ông H còn có ý nghĩa đảm bảo tính ổn định cho việc thu hoa lợi, lợi tức của ông Nguyễn Phi H. Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông H nhận thửa đất 287 là phù hợp.
        2. [6.2] Đối với phần diện tích đất thuộc các thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ số 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An, qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và theo Mảnh trích đo địa chính số 1494-2023 ngày 29 tháng 8 năm 2023 do Công ty TNHH Đ1 lập, được chi nhánh V1 Đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2023, cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa hiện trạng sử dụng so với số liệu thể hiện trên bản đồ địa chính và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, trong thực tế giữa các phần diện tích đất của thửa số 14, 15 và 21 không thể hiện ranh giới rõ ràng nên việc chia quyền sử dụng đất thuộc các thửa cho nhiều người trong trường hợp này sẽ khó thực hiện. Vì vậy không thể chia quyền sử dụng các thửa đất như đã nêu nên chỉ có thể giao quyền sử dụng đất cho một người mà người đó vừa có điều kiện, có khả năng hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế khác vừa có thể bảo quản, giữ gìn di sản, hoặc hạn chế ít nhất việc phải chuyển nhượng di sản cho người khác. Do vậy, xét về điều kiện kinh tế và phần tài sản được hưởng trong vụ án, thì bà Nguyễn Thủy T, là một trong hai người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc của bà Đ và bà T cũng là người có điều kiện kinh tế tốt hơn các đồng thừa kế khác, tức là bà T có khả năng hoàn tiền cho các đồng thừa kế. Điều này hoàn toàn phù hợp với ý chí của bà Nguyễn Thị Đ khi định đoạt phần tài sản của bà trong Di chúc nên Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà T nhận thửa đất 14, 15 và 21 là phù hợp.
      12. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Phi H1 và bà Nguyễn Thủy T.

      13. [7] Đối với số tiền bồi thường: Bà Nguyễn Thủy T được nhận số tiền 104.344.000 đồng từ bà Nguyễn Thị Thanh T5 để hoàn trả chia lại cho các đồng thừa kế khác là phù hợp.
      14. [8] Từ phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là phù hợp và có căn cứ nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B.
      15. [9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
      16. [10] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí định giá và phí thu thập tài liệu, chứng cứ là 57.800.000 đồng. Bà T đã nộp 35.000.000 đồng, ông X đã nộp 22.800.000 đồng. Ông H, bà T2, bà T3, bà T4, ông B có nghĩa vụ hoàn trả cho ông X và bà T theo số tiền mà mình phải chịu là 8.257.143 đồng.
      17. [11] Về án phí dân sự sơ thẩm:

        Ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T2 là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên Tòa án miễn án phí sơ thẩm cho ông H, ông B và bà T2.

        Ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 và bà Nguyễn Thủy T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể:

        • Bà Nguyễn Thủy T: 36.000.000 đồng + 3% (1.995.888.016,5 đồng –800.000.000 đồng) = 71.876.640 đồng.
        • Ông Nguyễn Thanh X: 300.000 đồng + [36.000.000 đồng + 3% (853.156.270,5 đồng – 800.000.000 đồng)] = 37.894.688 đồng.
        • Bà Nguyễn Xuân T3, bà Nguyễn Thị Thu T4 mỗi người chịu: 20.000.000 đồng + 4% (511.893.762.5 đồng - 400.000.000 đồng) = 24.475.751 đồng.
      18. [12] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên ông H, ông B là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thủy T, ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 612, 613, 614, 624, 630, 635, 636, 650 của Bộ luật dân sự; Điều 272 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh X về việc vô hiệu Di chúc do bà Nguyễn Thị Đ lập tại Văn phòng C vào ngày 25 tháng 01 năm 2021.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Thanh X, ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T.
    1. Ông Nguyễn Phi H được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 287 tờ bản đồ số 2 phường T, thành phố T, tỉnh Long An (theo Mảnh trích đo địa chính số 479-2024 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 20 tháng 3 năm 2024 và được Chi nhánh Văn phòng Đ2 tại thành phố T duyệt ngày 27 tháng 3 năm 2024).
    2. Bà Nguyễn Thủy T được quyền sử dụng phần đất thuộc thửa số 14, 15 và 21 tờ bản đồ 2-7 phường T, thành phố T, tỉnh Long An An (theo Mảnh trích đo địa chính số 1494-2023 do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 29 tháng 8 năm 2023 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 07 tháng 9 năm 2023).
    3. Ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thủy T được quyền thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất và thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
    4. Bà Nguyễn Thị Thanh T5 giao cho bà Nguyễn Thủy T 104.344.000 đồng.
    5. Bà Nguyễn Thủy T hoàn trả tiền cho những người thừa kế khác. Cụ thể:
      • Ông Nguyễn Phi H: 461.176.662,5 đồng;
      • Ông Nguyễn Thanh X: 853.156.270,5 đồng;
      • Ông Nguyễn Văn B: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Thị T2: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Xuân T3: 511.893.762,5 đồng;
      • Bà Nguyễn Thị Thu T4: 511.893.762,5 đồng.
    6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành.
    7. Ông Nguyễn Thanh X, bà Nguyễn Thị Đ được quyền lưu cư trong ngôi nhà trên phần đất thuộc thửa số 15 tờ bản đồ số 2-7 trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày bà Nguyễn Thủy T trả cho ông X đủ 853.156.270,5 đồng.
  3. Về chi phí tố tụng: Mỗi người thừa kế phải chịu 8.257.143 đồng. Cụ thể:
    • Ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị T2, mỗi người trả cho bà Nguyễn Thủy T 8.257.143 đồng.
    • Bà Nguyễn Xuân T3 trả cho ông Nguyễn Thanh X 8.257.143 đồng.
    • Bà Nguyễn Thị Thu T4 trả cho ông Nguyễn Thanh X 1.971.428 đồng, và trả cho ông Nguyễn Thanh X 6.285.715 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Miễn án phí sơ thẩm cho ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T2.

    Bà Nguyễn Thủy T chịu án phí sơ thẩm là 71.876.640 đồng. Chuyển 3.300.00 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001936 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thủy T còn phải nộp 68.576.640 đồng.

    Ông Nguyễn Thanh X chịu án phí sơ thẩm là 37.894.688 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông X đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001498 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm và chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông X đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001497 ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Ông Nguyễn Thanh X phải nộp 32.594.688 đồng.

    Bà Nguyễn Xuân T3 chịu án phí sơ thẩm là 24.475.751 đồng. Chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T3 đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000692 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Xuân T3 phải nộp 19.475.571 đồng.

    Bà Nguyễn Thị Thu T4 chịu án phí sơ thẩm là 24.475.751 đồng. Chuyển 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà T4 đã nộp (theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000691 ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An) thành án phí sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thu T4 phải nộp 19.475.571 đồng.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Miễn cho ông Nguyễn Phi H, ông Nguyễn Văn B án phí dân sự phúc thẩm.

    Bà Nguyễn Thủy T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000823 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND thành phố Tân An;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 114/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger