|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST
Ngày 28-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh
Các hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng và bà Nguyễn Thị Hảo
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
+ Tại điểm cầu thành phần: bà Lục Thanh H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:
+ Tại điểm cầu trung tâm: ông Nguyễn Đức T và bà Tạ Thị H1 - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: ông Đặng Đức A - chuyên viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 106/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T1, tên gọi khác: không, giới tính: nam, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1979, tại huyện H, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Thái, tôn giáo: không, trình độ học vấn: 5/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Lò Văn L và bà Lường Thị B. Vợ: Đường Thị T2. Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: chưa có. Nhân thân: ngày 08/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 17/9/2015 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 04/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M - Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: ông Đỗ Ngọc K - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn T1 là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2003, T1 sử dụng ma túy bằng cách hít để đưa ma túy vào trong cơ thể, hiện T1 đang làm nghề phụ xe khách cho nhà xe Đ, chạy tuyến M - Hà nội. Ngày 02/9/2024 tại bến xe khách M thuộc khu E, phường K, thành phố M, T1 có gặp T3 (là người trước đây cùng phụ xe khách với T1, T1 không biết rõ lai lịch, địa chỉ của T3), T3 hỏi thu có sử dụng ma túy loại Heroine thì đưa cho T3 200.000 đồng để T3 đi mua cho, T1 đồng ý và đưa cho T3 200.000 đồng, T3 nhận tiền rồi rời đi đâu không rõ. Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, khi T1 đang ở bến xe khách M thì T3 gọi điện thoại hẹn cầm ma túy đến cho T1, T1 đồng ý, khoảng 5 phút sau, T3 lại gọi điện thoại hẹn T1 ra cổng phụ bến xe để lấy ma túy, T1 đi đến điểm hẹn thì thấy 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng để ở sân ngay trước cổng phụ, T1 biết đây là bao thuốc lá có chứa ma túy loại Heroine mà T3 mua cho nên T1 đã nhặt bao thuốc lá trên cất giấu vào trong túi quần phía sau bên trái mà thu đang mặc để sử dụng. Sau đó, T1 quay lại xe khách đang đỗ ở bến xe thì bị tổ công tác Công an phường H phối hợp Công an phường K kiểm tra, phát hiện bắt giữ và thu vật chứng gồm: 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa gói giấy màu trắng, bọc bên trong 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc là chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0353.478.929.
Tại bản kết luận giám định số 1422/KL-KTHS, ngày 09/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật thu của Lò Văn T1 kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,167 gam (không phẩy một sáu bẩy gam).
Quá trình điều tra Lò Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Người làm chứng ông Đỗ Ngọc K có lời khai: khoảng 19 giờ 20 phút ngày 04/9/2024, ông được chứng kiến tại bến xe khách Móng Cái thuộc khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh lực lượng Công an thành phố M kiểm tra hành chính 01 người đàn ông khai tên là Lò Văn T1, sinh năm 1979, nơi thường trú: bản Nậm Hẹ 1, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau bên trái T1 đang mặc có 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng, bên trong chứa gói giấy màu trắng, bọc bên trong 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc là chất bột màu trắng nghi là ma túy. T1 khai chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine Thu vừa mua được mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó Công an lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa người cùng tang vật về trụ sở làm việc theo quy định.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 20 giờ 00 phút, ngày 04/9/2024 của Công an thành phố M thể hiện: hồi 19 giờ 30 phút, ngày 04/9/2024, tại khu vực bên trong bến xe khách thành phố M thuộc khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Tổ công tác của Công an phường H phối hợp với Công an phường K, thành phố M làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau bên trái T1 đang mặc gồm: 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa gói giấy màu trắng, bọc bên trong 01 gói giấy bạc, bên trong gói giấy bạc là chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0353.478.929.
Bản cáo trạng số 2173/CT-VKSMC ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Lò Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T1 từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu cho tiêu hủy đối với 0,13 gam ma túy hoàn lại sau giám định và 01 sim số 0353.478.929; Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh.
Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về chứng cứ: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T1 hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
[3] Như vậy, căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 04/9/2024, tại cổng phụ bến xe khách thành phố M, thuộc khu E, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh Lò Văn T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,167 (không phẩy một sáu bẩy) gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c. Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.
Bị cáo Lò Văn T1 là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã tìm mua ma túy để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thì thấy:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: đối với 01 phong bì số 1422/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhẫn hiệu Thăng Long, màu vàng. Xét đây là chất Nhà nước cấm và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu của bị cáo 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Samsung, màu xanh; số IMEL1 355870667480427, số IMEL 2: 357848357480426, bên trong gắn 01 sim số 0353478929. Xét bị cáo dùng vào việc giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Các tình tiết khác của vụ án: đối với đối tượng tên T3 là người mua ma túy giúp T1, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, con người cụ thể nên chưa có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc trường hợp được miễn án phí.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lò Văn T1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2024.
Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy đối với hủy 01 phong bì số 1422/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q hoàn lại sau giám định; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, màu vàng; 01 sim số 0353478929.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Samsung, màu xanh; số IMEL1 355870667480427, số IMEL 2: 357848357480426.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng số 12/2025/THA, ngày 31/10/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lò Văn T1 được miễn án phí.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt 18 tháng tù
