TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Gia Khải;
- Ông Đặng Ngọc Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Chu Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 16/TB-TA ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Văn T, sinh ngày 15/01/1995 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Duy T1 (đã chết) và bà: Đỗ Thị M, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: tháng 3/2013 nhập ngũ đến tháng 2/2015 xuất ngũ. Bản án số 01/2016/HSST, ngày 21/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 21/01/2018, nộp án phí ngày 04/3/2016, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/7/2024 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà).
2. Ngô Văn Đ, sinh ngày 13/8/1988 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn Đ1, sinh năm 1964 và bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1965; vợ: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1988; con: Có 03 con, sinh năm 2010, 2014 và 2018.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/7/2024 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà).
* Bị hại:
- - Ông Đỗ Duy T1, sinh năm 1964 (đã chết)
- Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1967 (là vợ ông T1) (vắng mặt);
- + Anh Đỗ Văn T3, sinh năm 1992 (là con đẻ) (vắng mặt);
- + Bị cáo Đỗ Văn T, sinh năm 1995 (là con đẻ) (có mặt);
- + Anh Đỗ Ngọc T4, sinh năm 2004 (là con đẻ) (vắng mặt);
- Cùng cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- Người đại diện ủy quyền của đại diện bị hại tham gia tố tụng: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1975. Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (có mặt);
* Người làm chứng:
- - Anh Bùi Văn H, sinh năm 1972 (vắng mặt);
- Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- - Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
- Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
- - Anh Hoàng Phó H1, sinh năm 1973 (vắng mặt);
- Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình
- - Anh Nguyễn Tiến M2, sinh năm 1961 (vắng mặt);
- Nơi cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng D, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 19/5/2021, giá trị đến ngày 19/5/2026. Sáng ngày 15/6/2024, Đ điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Auman, màu sơn xanh, kích thước bao (9730 x 2460 x 3600)mm, biển số 17C-053.35, khối lượng hàng chuyên chở theo thiết kế 9000 kg, chở 6.665 kg bìa carton (các tông), từ thành phố B qua tỉnh Hải Dương, cầu H, theo đường ĐT396B, chiều thị trấn Q đi ngã tư Đ để về nhà ở thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Cùng đi có vợ là chị Nguyễn Thị M1 và anh Bùi Văn H, giúp xếp dỡ hàng. Khoảng 12 giờ 40 phút, xe ô tô Đ điều khiển đến km số 23+400 mét, đường Đ, thuộc thôn D, xã Đ, huyện Q. Đường ĐT 396B thẳng rải nhựa asphalt tương đối bằng phẳng rộng 11 mét, được chia thành 02 chiều đi, chiều thị trấn Q đi ngã tư Đ và ngược lại, mỗi chiều rộng 5,5 mét, phân chia bằng vạch sơn màu vàng, loại vạch đơn, kẻ nét đứt dọc tim đường. Giáp tim đường về hai bên là làn đường rộng 3,5 mét ngược chiều nhau, tiếp đến là làn đường rộng 02 mét, ngăn cách với làn đường rộng 3,5 mét bằng vạch sơn màu trắng kẻ nét đứt. Giáp mép đường bên phải chiều thị trấn Q đi ngã tư Đ là lề đường được đổ bê tông rộng 2,4 mét cao ngang mặt đường tiếp đến khu vực dân cư, Quán ăn Đức H2 của anh Hoàng Phó H1, sinh năm 1973, có mặt tiền rộng 12,2 mét. Trước Quán ăn Đ2 về phía thị trấn Q là ngã ba giao nhau giữa đường ĐT 396B với đường không ưu tiên liên xã Q đi xã Đ có độ mở ra đương ĐT 396B rộng 72,5 mét (tâm ký hiệu O). Qua ngã ba về phía thị trấn Q ở lề đường bên phải có cột km số 23+400 mét (ký hiệu A), cột biển báo giao nhau đường không ưu tiên (biển số W.207d) được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số S.501) phạm vi tác dụng 800 mét (ký hiệu B), cột biển báo đường người đi bộ cắt ngang (biển số W.224, ký hiệu C). Giáp mép đường bên trái là lề đường đất rộng 1,5 mét tiếp đến khu vực bãi đất trống và cánh đồng, trên lề đường có cột biển báo người đi bộ cắt ngang (biển số W.224, ký hiệu C), biển báo giao nhau đường không ưu tiên (biển số W.207c, ký hiệu D). Lúc này trời nắng, đường khô, mật độ phương tiện tham gia giao thông vừa phải. Đ không sử dụng rượu bia, chất kích thích. Gần tới Quán ăn Đ2, Đ chủ động giảm tốc độ, đánh lái điều khiển xe ô tô tải dừng ở làn giáp mép đường và lề đường bên phải phía trước cửa Q ăn, đầu xe hướng ngã tư Đ, đuôi xe hướng thị trấn Q, trục bánh trước bên trái cách mép đường bên phải 1,4 mét, trục bánh sau bên trái cách mép đường bên phải 1,1 mét, chiếm 1/4 chiều đường xe chạy. Đ kéo phanh tay, tắt động cơ, không bật tín hiệu cảnh báo, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau, xuống xe cùng chị M1, anh H vào Quán ăn Đức H2 ngồi ăn cơm. Khoảng 10 phút sau, Đỗ Văn T không có giấy phép lái xe ô tô, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, số loại Carryvandao-Mbnew, kích thước bao (4225 x 1790 x 2555)mm, màu sơn trắng, khối lượng hàng chuyên chở theo thiết kế 750 kg, biển số 17C-181.93, chở bố là ông Đỗ Duy T1, sinh năm 1964, cư trú: thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, ngồi ghế phụ bên phải, đi với tốc độ khoảng 55 đến 60 km/h, ở giữa làn giáp tim đường và làn giáp mép đường bên phải, hướng thị trấn Q đi ngã tư Đ tới. Do không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn nên khi thấy xe ô tô tải Đ đỗ ở làn giáp mép đường phía trước cùng chiều T đã không có xử lý, đầu bên phải xe ô tô tải T điều khiển đã va chạm với thanh kim loại chắn, cạnh ngoài mặt ngoài các thanh kim loại gắn cố định khung kim loại với trục thân xe, cụm đèn xi nhan, cạnh dưới đuôi xe, mặt ngoài chắn bùn phía sau, mặt ngoài trục thân xe, mặt ngoài lốp xe dự phòng gắn cố định dưới trục thân xe, tấm kim loại chắn bùn phía sau bên trái xe ô tô tải của Đ. Đầu bên phải xe ô tô tải T điều khiển bị cong vặn biến dạng, mép méo, dắt dính vào phía sau bên trái xe ô tô tải của Đ. Ông T1 ngồi ghế phụ bên phải cũng bị đè ép, dắt kẹp trong ca bin xe. Nghe tiếng va chạm, Đ cùng chị M1, anh H đi ra. T bị rách da vùng trán trái, cổ tay, bàn tay phải đã tự mở cửa xuống xe kêu “mọi người cứu bố cháu với”. Đ nhờ xe ô tô đi qua đường nối kéo ô tô tải của T lùi về phía sau khoảng 02 đến 03 mét. Ông T1 bị rách toác cơ, tụ máu vùng đầu, mặt và toàn thân; gãy xương hàm trên, hàm dưới bên phải; gãy toàn bộ các đốt sống cổ; vỡ xương bả vai hai bên; gãy xương đòn trái và toàn bộ xương sườn cung trước bên trái; gãy xương cánh tay phải; gãy hai xương cẳng tay phải; gãy xương đùi phải; vỡ toác nát toàn bộ xương hộp sọ, tổ chức não thoát ra ngoài; gãy xương đòn phải, toàn bộ xương sườn, xương ức bên phải; gãy toàn bộ các xương cột sống; dập nát toàn bộ phổi phải, tử vong trong xe do chấn thương sọ não và đa chấn thương. T bị rách da vùng trán trái, cổ tay, bàn tay phải được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 20/6/2024, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Xe ô tô tải biển số 17C-181.93 hư hỏng thiệt hại trị giá 38.127.000 đồng. Xe ô tô tải biển số 17C-053.35 hư hỏng thiệt hại trị giá 2.400.000 đồng.
Kết luận giám định tử thi số 910/KLGĐTT- KTHS, ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T: “1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da, rách toác cơ, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Gãy xương hàm trên, hàm dưới bên phải; gãy toàn bộ các đốt sống cổ; vỡ xương bả vai hai bên; gãy xương đòn trái và toàn bộ xương sườn cung trước bên trái; gãy xương cánh tay phải; gãy hai xương cẳng tay phải; gãy xương đùi phải. Khám trong: Vỡ toác nát toàn bộ xương hộp sọ, tổ chức não thoát một phần ra ngoài. Gãy xương đòn phải, toàn bộ xương sườn, xương ức bên phải; gãy toàn bộ các xương cột sống; dập nát toàn bộ phổi phải. 2. Kết luận: Đỗ Duy T1 chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương”.
Cáo trạng số 116/CT-VKSQP ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;
- Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như đã khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng.
- Người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại tham gia tố tụng chị Bùi Thị N trình bày: Chị là thím của bị cáo Đỗ Văn T. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo Ngô Văn Đ đã thỏa thuận, bồi thường mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Đỗ Duy T1 số tiền 50.000.000 đồng. Bị cáo Đỗ Văn T đã lo toàn bộ mai táng phí cho ông Đỗ Duy T1. Đại diện bị hại T1 đã nhận số tiền trên không còn yêu cầu về bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho cả hai bị cáo T và bị cáo Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn T, bị cáo Ngô Văn Đ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận với nhau và với Kiểm sát viên. Bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy:
[2.1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại là bà Bùi Thị N tại phiên tòa và phù hợp với Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông (kèm bản ảnh) (bút lúc số 14 - 36); Biên bản khám nghiệm tử thi ông Đỗ Duy T1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 15 giờ ngày 15/6/2024 tại Bệnh viện đa khoa huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 37 - 38); Kết luận giám định tử thi số 910/KLGĐTT- KTHS, ngày 09/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 89 - 90); Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T (bút lục số 49 - 57); Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 366/KLTTCT-TTPY, ngày 16/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y: “1. Các kết quả chính: Vùng trán lệch trái có 02 vết sẹo: Vết thứ nhất sẹo nhỏ. Vết thứ hai sẹo nhỏ; M3 sau từ cổ tay đến mu bàn tay phải có 03 vết sẹo: Vết thứ nhất sẹo nhỏ. Vết thứ hai sẹo trung bình. Vết thứ ba sẹo nhỏ. 2. Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đỗ Văn T tại thời điểm giám định là 10%” (bút lục số 95 - 96); Kết luận định giá số 25/KL-HĐĐGTS, ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Q, tỉnh Thái Bình, xác định: “xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, số loại Crryvandao-Mbnew, màu sơn trắng, biển số 17C-181.93, hư hỏng thiệt hại trị giá 38.127.000 đồng; xe ô tô tải nhãn hiệu FOTON, số loại Thaco Auman, màu sơn xanh, biển số 17C-053.35, hư hỏng thiệt hại trị giá 2.400.000 đồng” (bút lục số 104 - 106); Công văn số 1432/SGTVT-QLVTPT&NL, ngày 26/6/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T (bút lúc số 46); Biên bản đo nồng độ cồn của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an huyện Q đối với Đỗ Văn T hồi 14 giờ 43 phút, đối với Ngô Văn Đ hồi 15 giờ 53 phút cùng ngày 15/6/2024, đều kết quả: “0,000mg/l” (bút lục số 61, 62); Phiếu xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ngày 15/6/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh T, đối với Đỗ Văn T “Âm tính với các chất ma túy” (bút lục số 51); Phiếu xét nghiệm sinh hóa nước tiểu ngày 15/6/2024 của Bệnh viện Đ, tỉnh Thái Bình, đối với Ngô Văn Đ: “Âm tính với các chất ma túy” (bút lục số 69); Biên bản cân tải trọng phương tiện, hàng hóa do Đội Cảnh sát giao, thông trật tự Công an huyện Q thực hiện hồi 08 giờ 26 phút ngày 18/6/2024 (bút lục số 68); Biên bản ghi lời khai của người làm chứng Bùi Văn H (bút lục số 249 - 252); Nguyễn Thị M1 (bút lục số 253 - 256); Hoàng Phó H1 (bút lục số 262 - 263); Nguyễn Tiến M2 (bút lục số 266 - 267); Biên bản ghi lời khai của đại diện bị hại Đỗ Thị M (bút lục số 257 - 259). Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 15/6/2024, tại km số 23+400 mét, đường Đ, thuộc thôn D, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Ngô Văn Đ có giấy phép lái xe ô tô hạng D, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Auman, màu sơn xanh, kích thước bao (9730 x 2460 x 3600)mm, biển số 17C-053.35, chở 6.665 kg bìa carton, đỗ xe ở làn giáp mép đường và lề đường bên phải chiều thị trấn Q đi ngã tư Đ, đầu xe hướng ngã tư Đ, đuôi xe hướng thị trấn Q, phía trước Quán ăn Đức H2 của anh Hoàng Phó H1, trục bánh trước bên trái xe cách mép đường bên phải 1,4 mét, trục bánh sau bên trái xe cách mép đường bên phải 1,1 mét, chiếm 1/4 chiều đường xe chạy, để vào quán ăn cơm, nhưng không bật tín hiệu, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe để cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết. Đến 12 giờ 50 phút, Đỗ Văn T không có giấy phép lái xe ô tô, điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, số loại Carryvandao-Mbnew, màu sơn trắng, khối lượng hàng chuyên chở theo thiết kế 750 kg, biển số 17C-181.93, chở bố là ông Đỗ Duy T1 ngồi ghế phụ bên phải, đi với tốc độ từ 55 đến 60 km/h, giữa làn giáp tim đường và làn giáp mép đường bên phải, hướng thị trấn Q đi ngã tư Đ tới, không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn ở nơi có biển báo giao với đường không ưu tiên (biển số W.207d) được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số S.501) phạm vi tác dụng 800 mét nên đầu bên phải xe ô tô tải T điều khiển va chạm với thanh kim loại chắn, cạnh ngoài mặt ngoài các thanh kim loại gắn cố định khung kim loại với trục thân xe, cụm đèn xi nhan, cạnh dưới đuôi xe, mặt ngoài chắn bùn phía sau, mặt ngoài trục thân xe, mặt ngoài lốp xe dự phòng gắn cố định dưới trục thân xe, tấm kim loại chắn bùn phía sau bên trái xe ô tô tải của Đ. Hậu quả: ông Thái tử V trong ca bin xe do chấn thương sọ não và đa chấn thương. T bị rách da vùng trán trái, cổ tay, bàn tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Xe ô tô tải biển số 17C-181.93 hư hỏng thiệt hại trị giá 38.127.000 đồng. Xe ô tô tải biển số 17C-053.35 hư hỏng thiệt hại trị giá 2.400.000 đồng.
Hành vi của Ngô Văn Đ vi phạm điểm a, d khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người, 01 người bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 10%, thiệt hại tài sản trị giá 38.127.000 đồng
Hành vi của Đỗ Văn T vi phạm khoản 9, khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11; khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người, thiệt hại tài sản trị giá 2.400.000 đồng.
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm
“9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
Điều 9. Quy tắc chung
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
“1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.
Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ
“3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;
d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết”.
Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông
“1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp”.
Điều 5 “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
“1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường”.
Do đó, hành vi Đỗ Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Hành vi Ngô Văn Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Bản thân bị cáo Đ đã được học và được cấp giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo đỗ xe nhưng không bật tín hiệu, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và sau xe để cảnh báo cho người điều khiển phương tiện khác biết. Bản thân bị cáo T không có giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng bị cáo vẫn sử dụng xe ô tô, không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại an toàn ở nơi có biển báo giao với đường không ưu tiên (biển số W.207d) được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số S.501) nên đầu bên phải xe ô tô tải T điều khiển va chạm với thanh kim loại chắn, cạnh ngoài mặt ngoài các thanh kim loại gắn cố định khung kim loại với trục thân xe, cụm đèn xi nhan, cạnh dưới đuôi xe, mặt ngoài chắn bùn phía sau, mặt ngoài trục thân xe, mặt ngoài lốp xe dự phòng gắn cố định dưới trục thân xe, tấm kim loại chắn bùn phía sau bên trái xe ô tô tải của Đ. Hậu quả: ông Thái tử V trong ca bin xe do chấn thương sọ não và đa chấn thương. T bị rách da vùng trán trái, cổ tay, bàn tay phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 10%. Xe ô tô tải biển số 17C-181.93 hư hỏng thiệt hại trị giá 38.127.000 đồng. Xe ô tô tải biển số 17C-053.35 hư hỏng thiệt hại trị giá 2.400.000 đồng. Do đó việc xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo nói riêng và đấu tranh, ngăn chặn đối với tội phạm về trật tự an toàn giao thông nói chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu năm 2016 đã bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đã được xóa án tích. Bị cáo Đ có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường thiệt hại và chi trả tiền mai táng phí bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, bị cáo T và Đ cùng có lỗi dẫn đến hậu quả Tình bị thương, bị hại Đỗ Duy T1 tử vong nên lỗi của người này cần được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người còn lại. Ngoài ra, bị cáo T đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Đ có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, có khả năng cải tạo thành công dân có ích cho xã hội nên không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để đạt được mục đích của hình phạt. Đối với bị cáo T có nhân thân xấu, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo là con đẻ của bị hại nên xem xét cần áp dụng khoản 1 điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, cho bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật để phấn đấu cải tạo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, thiệt hại về tính mạng là nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo; các bị cáo làm nghề lao động tự do. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với Xe ô tô tải nhãn hiệu Foton, số loại Thaco Auman, màu sơn xanh, biển số 17C-053.35 và 6.665 kg bìa carton là của bị cáo Ngô Văn Đ. Xe ô tô tải nhãn hiệu Suzuki, số loại Carryvandao-Mbnew, màu sơn trắng, biển số 17C-181.93 của bị cáo Đỗ Văn T. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý trả phương tiện, hàng hóa, các mảnh vỡ nhựa, kính thủy tinh màu đen trắng thu tại hiện trường và giấy tờ kèm theo cho các bị cáo là phù hợp.
[7.2] Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 19/5/2021 mang tên Ngô Văn Đ cần trả cho bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Ngô Văn Đ đã thỏa thuận, bồi thường mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Đỗ Duy T1 số tiền 50.000.000 đồng. Bị cáo Đỗ Văn T đã lo toàn bộ mai táng phí cho ông Đỗ Duy T1. Đại diện bị hại T1 đã nhận số tiền trên không còn yêu cầu về bồi thường dân sự. Đ không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại của phương tiện. T cũng không yêu cầu Đ phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cũng như thiệt hại của phương tiện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50; Điều 38; Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/11/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo Ngô Văn Đ 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng D số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 19/5/2021.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591, 601 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự giữa các bị cáo với gia đình bị hại; bị cáo Ngô Văn Đ đã thỏa thuận, bồi thường mai táng phí, bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Đỗ Duy T1 số tiền 50.000.000 đồng. Đỗ Văn T đã lo toàn bộ mai táng phí cho ông Đỗ Duy T1. Các bị cáo đã bồi thường xong.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/11/2024). Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Văn T, Ngô Văn Đúc phạm tội VPQĐVTGGTDB
