|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE ————————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/11/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Kim;
- Ông Nguyễn Văn Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 297/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đặng Thị Ánh T, sinh năm: 1986;
- Bị đơn: anh Nguyễn Hoài T1, sinh năm: 1989;
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP Cần Thơ.
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
(Chị T, anh T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 8 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Ánh T trình bày:
Chị với anh Nguyễn Hoài T1 do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ, chị T góp ý anh T1 sửa đổi nhưng một thời gian mọi việc vẫn vậy. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và cũng khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh T1 đã ly thân mỗi người ở một nơi từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai chỉ còn quan tâm, lui tới thăm nhau vì con. Vợ chồng không còn tình cảm nhưng vẫn còn quan tâm là vì còn tình nghĩa. Tuy nhiên, nếu tiếp tục hàn gắn và duy trì quan hệ vợ chồng với anh T1 thì chị không thể tiếp tục. Từ khi ly thân đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng chị T không được tháo gỡ; tính tình anh T1 thất thường, hay thay đổi, không kiên định nên tình trạng vợ chồng chị không cải thiện. Nay, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
Về con chung: anh chị có 01 con chung Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020. Hiện nay, cháu T2 đang sống với anh T1. Chị T đồng ý cho anh T1 được tiếp tục nuôi cháu T2. Chị T không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.
Tại bản tự khai ngày 31/10/2024, bị đơn anh Nguyễn Hoài T1 trình bày:
Anh T1 với với chị T do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã từ đó anh chị không có tiếng nói chung mới xảy ra việc chị T xin ly hôn. Anh chị đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người nấy sống nhưng có liên lạc, tới lui, quan tâm cuộc sống của nhau. Nay, anh T1 xác định không còn tình cảm với chị T nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, anh T1 đồng ý.
Về con chung: anh chị có 01 người con chung là Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020. Sau khi ly hôn, anh T1 đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2. Chị T không cấp dưỡng nuôi con, anh T1 đồng ý.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng sau khi ly hôn.
Anh T1 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt do bận công việc và không có khiếu nại về sau.
Tại bản tự khai ngày 11/11/2024, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có yêu cầu giải quyết vắng mặt do nhà xa không đến dự các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa được. Chị T không khiếu nại về sau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:
Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39 BLTTDS; Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề xuất giải quyết:
- Ghi nhận chị Đặng Thị Ánh T3 và anh Nguyễn Hoài T1 thuận tình ly hôn;
- Về con chung: Sau ly hôn anh Nguyễn Hoài T1 được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020; chị Đặng Thị Ánh T không phải cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 19/8/2024, chị Đặng Thị Ánh T khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T1. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Đặng Thị Ánh T, bị đơn anh Nguyễn Hoài T1 có yêu cầu giải quyết vắng mặt phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị T:
Chị T, anh T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2020 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/8/2024. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu chị T, anh T1 sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường hay cãi vã từ đó anh chị không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị T, anh T1 ly thân sống mỗi người một nơi từ năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, mâu thuẫn của vợ chồng chị không được tháo gỡ; tình trạng vợ chồng không cải thiện. Chị T xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh T1. Đối với yêu cầu của chị T, anh T1 đồng ý, điều này có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị T, anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020. Hiện nay, cháu T2 đang sống với anh T1. Khi ly hôn, chị T đồng ý cho anh T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020. Đối với yêu cầu này của chị T, anh T1 đồng ý nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
[4] Về cấp dưỡng: anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết, anh T1 có quyền yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T và anh T1 không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ánh T xin ly hôn đối với anh Nguyễn Hoài T1;
* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Ánh T với anh Nguyễn Hoài T1.
* Về nuôi con chung: anh Nguyễn Hoài T1 được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng T2, sinh ngày 22/11/2020.
Ghi nhận anh Nguyễn Hoài T1 không yêu cầu chị Đặng Thị Ánh T cấp dưỡng nuôi con.
Chị Đặng Thị Ánh T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
* Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Đặng Thị Ánh T và anh Nguyễn Hoài T1 không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.
2. Về án phí: chị Đặng Thị Ánh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 00004504 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trung |
Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
