|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày: 22-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Đông
Bà Lê Thị Kim Uyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Bích H, sinh năm 1985 tại Long An; nơi thường trú: số G Quốc lộ A, phường K, thành phố T, tỉnh Long An; nơi ở hiện tại: số A, Quốc lộ A, phường K, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Kỳ H1 và bà Trần Thị Đ; chồng: Đỗ Thành T, có 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/8/2024 cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm: 1981
- Ông Đỗ Thành T, sinh năm:1981
- Văn phòng C
Địa chỉ: số C đường số F khu dân cư L, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, phường K, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).
Địa chỉ trụ sở: Số C, khu dân cư L, đường vòng tránh, quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thiện Đ1, sinh năm: 1978, chức vụ: trưởng văn phòng
Địa chỉ: Số B, tỉnh lộ 827, khu phố A, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người làm chứng: bà Trần Thị Mỹ H2, sinh năm:1969
Địa chỉ: Số B N, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2021 đến tháng 02/2024, ông Huỳnh Văn T1 cho bị cáo Dương Bích H và chồng là ông Đỗ Thành T vay nhiều lần với tổng số tiền 800.000.000 đồng, lãi suất 04%/01 tháng. Tại thời điểm tháng 04/2023, bị cáo H và ông T sau khi vay của ông T1 được số tiền là 700.000.000 đồng thì ông T1 yêu cầu bị cáo H lấy sổ đỏ của bị cáo đưa cho ông T1 làm tin. Để tạo niềm tin cho ông T1, vào tháng 05/2023, bị cáo H lên mạng xã hội Z liên lạc với một người không rõ nhân thân, lai lịch đặt mua 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H với giá 2.000.000 đồng để đưa ông T1 giữ làm tin (thửa đất này trước đây là của bị cáo đứng tên nhưng năm 2022 bị cáo đã chuyển quyền sử dụng sang cho người khác). Do thấy số tiền nợ cao nên ông T1 tiếp tục yêu cầu bị cáo H đưa tiếp sổ đỏ khác để làm tin, để tạo niềm tin cho ông T1, vào tháng 8/2023 bị cáo H tiếp tục vào mạng xã hội Z liên hệ với một người không rõ nhân thân, lai lịch đặt mua 01 giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H với giá 2.500.000đồng (thửa đất này thực tế không phải của bị cáo đứng tên mà là của em ruột bị cáo H tên Dương Bích Q đứng tên chủ sở hữu), bị cáo lấy giấy chứng nhận giả này đưa cho ông T1 giữ để làm tin, sau đó ông T1 yêu cầu bị cáo H và ông T ký tên hợp thức hóa số tiền vay và lãi tổng cộng là 800.000.000đồng. Trong 02 lần bị cáo H đặt mua giấy giả đưa cho ông Thôi thì ông T không biết, do trước đây bị cáo H có đứng tên tài sản riêng là các quyền sử dụng đất nên ông T không biết hiện tại bị cáo H có bao nhiêu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với số tiền vay 700.000.000đồng, sau khi vay thì bị cáo H cất giữ dùng vào việc mở tiệm tạp hóa mua đồ về bán kiếm lời, mua bán phụ kiện điện thoại bị thua lỗ và dùng để trả lãi cho ông T1.
Đến tháng 02/2024, ông T1 yêu cầu bị cáo H và ông T ký hợp đồng công chứng thế chấp quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 1883, 1909 với số tiền vay cộng nhiều lần là 900.000.000đồng bao gồm tiền nợ cũ là 800.000.000 đồng và tiền lãi là 100.000.000 đồng. Đến ngày 08/3/2024, bị cáo H, ông T, ông T1 ra Văn phòng C để ký hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02 thửa đất số 1883, 1909 với tổng số tiền 900.000.000 đồng thì nhân viên Văn phòng C phát hiện giấy giả và trình báo Công an, lúc này bị cáo H mới thừa nhận đặt mua giấy giả và ông T mới biết 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giấy giả.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Dương Bích H đã khai nhận sau khi vay tiền của ông T1 để kinh doanh làm ăn thì ông T1 yêu cầu đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 giữ làm tin nên bị cáo đã lên mạng đặt mua 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa cho ông T1. Sau đó đến Văn phòng công chứng sử dụng 02 giấy giả nêu trên công chứng thế chấp, bị cáo không cho ông T biết bị cáo đã đặt mua giấy giả, đến khi Văn phòng công chứng phát hiện và công an làm việc thì ông T mới biết được 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả.
Tại Bản kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận 02(hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An và số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296 m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H là giả.
- Vật chứng thu giữ gồm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 03 bản hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1883, 1909 giữa Dương Bích H, Đỗ Thành T và Huỳnh Văn T1; 01 căn cước công dân Dương Bích H; 01 Giấy đăng ký kết hôn Dương Bích H và Đỗ Thành T.
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKSTA-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Dương Bích H về tội “ sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Dương Bích H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và xác định bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố về tội “sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng, không oan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T1 khai: Ông và ông T (chồng bị cáo H) là bạn thân học chung lớp trung cấp. Từ năm 2021 đến năm 2022 bị cáo Dương Bích H và chồng là Nguyễn Thành T2 có vay tiền của ông rất nhiều lần với tổng số tiền 400.000.000đồng, lãi suất 1%/tháng, khi vay bà H có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin, hàng tháng vợ chồng T2, H có trả lãi đúng hạn. Đến tháng 06/2022 bị cáo H và ông T2 thanh toán hết nợ. Từ tháng 01/2023 đến tháng 11/2023 vợ chồng H, T2 tiếp tục vay tiền của ông nhiều lần có lúc vài chục triệu đồng, có lúc vài trăm triệu đồng, mục đích vay làm ăn kinh doanh, lãi suất 1%/tháng, do chổ bạn bè thân nên hai bên thỏa thuận miệng, vay không thời hạn. Sau khi vay hàng tháng bị cáo H và T2 đều có trả lãi đúng kỳ hạn. Trong thời gian vay thấy số tiền cộng dồn lên cao nên ông T1 có yêu cầu bị cáo H và T2 thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin. Tháng 11/2023 bị cáo H có đưa cho ông giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², và số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296 m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H. Đến tháng 02/2024 ông yêu cầu vợ chồng bị cáo H ra công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hai thửa đất nêu trên. Đến ngày 08/3/2024 hai bên ra ký hợp đồng thế chấp tại Văn phòng C thì bị phát hiện hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị cáo thế chấp là giả.
Ông T1 xác định bị cáo H và T2 vay tiền của ông sử dụng vào mục đích đích kinh doanh, mua bán, hàng tháng đều có trả lãi cho đến hết tháng 02/2024, theo ông bị cáo H không có mục đích chiếm đoạt số tiền trên của ông vì khi tổng kết số nợ vợ chồng bị cáo H có xin ông cho trả dần mỗi năm 100 triệu đồng, ông đã đồng ý. Đối với số tiền bị cáo H và T2 nợ ông khi cần thiết ông sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự theo quy định pháp luật. Nay ông không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Thành T khai: Ông thống nhất với lời khai của bị cáo H và ông T1, ông xác định khoảng thời gian từ năm 2021 cho đến năm 2023 vợ chồng ông có vay tiền của ông T1 nhiều lần, mục đích làm ăn, kinh doanh. Khi vay hai bên thỏa thuận miệng, lãi suất 1%/tháng, vay không thời hạn. Sau khi vay vợ chồng ông sử dụng tiền vay vào mục đích kinh doanh mua bán tạp hóa, mở quán ăn, mua bán phụ kiện điện thoại, hàng tháng đều trả lãi cho ông T đầy đủ từ số tiền lời do mua bán. Đến ngày 08/3/2024 bị cáo H và ông T1 kêu ông ra Văn phòng công chứng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất cho ông Thôi T3 bị nhân viên Văn phòng công chứng phát hiện giấy giả lúc đó ông mới biết. Việc bị cáo H đặt làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên mạng xã hội ông hoàn toàn không biết vì trước đây bị cáo H có đứng tên riêng một số thửa đất do cha mẹ bị cáo H cho riêng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữa nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Bích H về tội “ sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi con còn nhỏ. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Bích H phạm tội “ sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức”.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Dương Bích H 01 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến năm đến 04 năm.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Lưu trong hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 03 bản hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1883, 1909 giữa Dương Bích H, Đỗ Thành T và Huỳnh Văn T1 là tài liệu điều tra.
Hoàn trả cho bị cáo Dương Bích H 01 căn cước công dân Dương Bích H và 01 Giấy đăng ký kết hôn Dương Bích H và Đỗ Thành T.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- [3] Nội dung: Lời khai của bị cáo Dương Bích H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Từ năm 2021 đến tháng 11/2023, bị cáo H và chồng là ông Đỗ Thành T vay tiền của ông Huỳnh Văn T1 nhiều lần với lãi suất 1%/tháng, vay không thời hạn, mục đích vay làm ăn, kinh doanh. Trong quá vay có trả lãi hàng tháng và một số lần vay đã trả gốc đủ cho ông T1. Sau khi cộng dồn các lần vay thấy số tiền cao nên ông T1 yêu cầu bị cáo thế chấp quyền sử dụng đất. Để tạo niềm tin cho ông T1 nên bị cáo Dương Bích H lên mạng xã hội đặt mua 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ165571, thửa đất số 1883 và số CĐ165571, thửa đất số 1909 để thế chấp cho ông T1 và bị cáo H đưa cho ông T1 giữ giấy vào tháng 11/2023. Đến ngày 08/3/2024, bị cáo sử dụng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nêu trên đến Văn phòng C, địa chỉ tại C Khu dân cư L, Quốc lộ A, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An để yêu cầu công chứng hợp đồng thế chấp cho ông Huỳnh Văn Thôi T3 bị nhân viên Văn phòng công chứng phát hiện là giấy giả.
Hành vi đặt làm và sử dụng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả của bị cáo H đã phạm vào tội“ sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An truy tố bị cáo Dương Bích H về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Bích H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Tại nơi cư trú bị cáo chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng không ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 03 bản hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1883, 1909 giữa Dương Bích H, Đỗ Thành T và Huỳnh Văn T1 là tài liệu điều tra.
Hoàn trả cho bị cáo Dương Bích H 01 bản chính căn cước công dân Dương Bích H và 01 bản chính Giấy đăng ký kết hôn Dương Bích H và Đỗ Thành T.
[8] Đối với ông Đỗ Thành T, trong suốt quá trình bị cáo H đặt mua 02 giấy giả và dùng để ký hợp đồng thế chấp ông T hoàn toàn không biết là giấy giả, đến khi Văn phòng công chứng phát hiện thì ông T mới biết là giả nên ông T không đồng phạm với bị cáo H về tội “ sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[9] Đối với người đã làm giấy giả cho bị cáo H, hiện nay bị cáo không còn lưu giữ thông tin, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch nên tiếp tục xác minh xử lý sau theo quy định nên không đề cập.
[10] Đối với hành vi của bị cáo H đặt trên mạng xã hội làm giả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp cho ông T1 vay tiền mục đích để làm tin, kéo dài thời hạn trả nợ do kinh doanh bị thua lỗ. Sau khi vay tiền của ông T1 từ năm 2021 đến tháng 02/2024 hàng tháng bị cáo H và ông T có trả lãi cho ông T1 theo kỳ hạn đã thỏa thuận, có một số lần đã trả đủ nợ gốc. Ngoài ra, bị cáo và ông T sử dụng tiền vay đúng mục đích là kinh doanh, mua bán tạp hóa, mua bán phụ kiện điện thoại sinh lời và dùng số tiền vay để trả lãi cho ông T1. Tại phiên tòa, bị cáo, ông T và ông T1 khai nhận đối với số nợ gốc sau khi cộng dồn số tiền vay bị cáo, ông T và ông T1 có thỏa thuận, vợ chồng bị cáo H sẽ trả dần mỗi năm 100 triệu đồng cho ông T1 đến khi hết nợ. Như vậy, không có căn cứ để xác định bị cáo H và ông T dùng thủ đoan gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền vay hoặc sử dụng số tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả tiền cho ông T1. Do đó, việc vay nợ giữa ông T, bà H và ông T1 là quan hệ dân sự, hành vi này không đủ yếu tố cấu thành một trong các tội về chiếm đoạt tài sản.
[10] Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự về tội sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức bị cáo còn có có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Dương Bích H phạm tội “sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức”.
- Xử phạt: Bị cáo Dương Bích H 02 (hai) tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22.11.2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Dương Bích H chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Căn cứ khoản 1 Điều 341; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Giao bị cáo Dương Bích H cho Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố T, tỉnh Long An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Dương Bích H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CĐ165571 thửa đất số 1883, tờ bản đồ số 4, diện tích 558m², địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CĐ 165571, thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 4, diện tích 1296m² địa chỉ tại phường K, thành phố T, tỉnh Long An mang tên Dương Bích H; 03 bản hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1883, 1909 giữa Dương Bích H, Đỗ Thành T và Huỳnh Văn T1.
Hoàn trả cho bị cáo Dương Bích H 01 bản chính căn cước công dân tên Dương Bích H và 01 bản chính Giấy đăng ký kết hôn Dương Bích H và Đỗ Thành T.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Hằng |
|||
|
||||
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm - tội sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tội sử dụng giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Bích Hằng sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
