|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Ngọc Phương;
- Ông Nguyễn Văn Thượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 25-8-2003, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đỗ Thị T2; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 22-8-2023 bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC, đã chấp hành nộp phạt ngày 23-8-2023 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12-9-2024 cho đến nay; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 04-01-2024, Nguyễn Chí H đến khu vực thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp người tên V (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 2.500.000 đồng ma tuý để bán lại cho người khác. Do có thoả thuận trước đó, sau khi mua được ma tuý H mang đến nhà trọ của Nguyễn Quốc T3 thuê để ở thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, rồi điện thoại cho Đinh Công H1 biết. Sau đó, H1 đến nhà trọ do T3 thuê gặp H và mua lại bịch ma tuý của H với giá 2.700.000 đồng (mua thiếu). Lúc này, tại nhà của T3 gồm có T3, H, H1; H1 lấy bịch ma túy vừa mua đổ một ít vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của H để cùng H, T3 sử dụng, số ma tuý còn lại H1 mang về nhà. Đến chiều ngày 07-01-2024, H1 điện thoại cho Đỗ Văn T nhờ T chở đến nhà trọ do T3 thuê, khi đến nhà trọ H1 kêu T vào nhà gặp H mượn bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý, T vào nhà gặp H và mượn bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang ra đưa cho H1. Lúc này, H1 lấy bịch ma tuý mang theo trong người ra đổ một ít vào nỏ thuỷ tinh để sử dụng. Thấy vậy, T hỏi mua của H1 300.000 đồng ma tuý, H1 đồng ý bán và kêu T tự chiết ma tuý từ trong bịch nylon qua đoạn ống hút. Sau khi mua được ma tuý, T kêu H ra cùng sử dụng ma tuý với H1, còn T đi công việc và về nhà một mình sử dụng hết số ma tuý vừa mua của H1. Sau đó, T quay lại nhà trọ để trả tiền mua ma tuý trước đó cho H1 và thấy H1 đang sử dụng ma tuý cùng với H, nên T kêu T3 vào sử dụng ma túy cùng với H1 và H thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Quá trình điều tra, Đỗ Văn T đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 12-9-2024 Đỗ Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt để tạm giam. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đỗ Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Nguyễn Chí H, Đinh Công H1, Nguyễn Quốc T3, Đỗ Văn T ngày 07-01-2024, thể hiện: H, H1, T3, T dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.
- * Tại Kết luận giám định số: 56/KL- KTHS, ngày 14-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận về đối tượng giám định: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0596 gam. 01 (một) cái nỏ thuỷ tinh (ký hiệu M2) bên trong bì thư gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng vì mẫu ở dạng vi vết.
- * Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Đỗ Văn T không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
- * Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A9 màu đen, số IMEI1: 863476040585679, số IMEI2: 863476041085679, không mở nguồn được; 01 (một) xe môtô biển số 70K1-752.31, số máy: KC34E5049564, số khung: RLHKC4403NY020060.
Tại Bản cáo trạng số 116/CT-VKSTC, ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Văn T.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Đỗ Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không có ý kiến tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo Đỗ Văn T: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng chiều ngày 07-01-2024 tại nhà trọ của Nguyễn Quốc T3 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đỗ Văn T đã có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để cùng với Đinh Công H1, Nguyễn Chí H, Nguyễn Quốc T3 tổ chức cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ cùng tang vật. Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn T là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, lời khai của Đinh Công H1, Nguyễn Chí H và Nguyễn Quốc T3 cùng với vật chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Chất ma tuý bị cáo Đỗ Văn T tổ chức sử dụng trái phép thu giữ được là loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng vì mẫu ở dạng vi vết. Do đó, hành vi của bị cáo Đỗ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo Đỗ Văn T cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổ chức cùng một lúc cho 02 người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy nên bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Đối với hai người trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Do đó Bản cáo trạng số 116/CT-VKSTC ngày 16-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của Nguyễn Chí H, Đinh Công H1, Nguyễn Quốc T3 đã được Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử tại Bản án số 93/2024/HSST ngày 20-9-2024.
[4] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, ma túy là loại chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm việc trồng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn T đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, nên phải áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét vai trò của bị cáo Đỗ Văn T trong vụ án này thấy rằng: Bị cáo Đỗ Văn T chỉ đồng phạm với vai trò giúp sức cung cấp bộ D để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý xảy ra vào ngày 07-01-2024 nên cần xử phạt bị cáo mức án thấp hơn Nguyễn Chí H, Đinh Công H1 và Nguyễn Quốc T3 đã được xét xử tại Bản án số 93/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[6] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo:
[6.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Đỗ Văn T thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6.3] Nhân thân: Bị cáo Đỗ Văn T có một tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên nhân thân bị cáo bị xem là xấu.
[7] Về hình phạt áp dụng:
[7.1] Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo cần áp dụng hình chính là phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo Đỗ Văn T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[7.2] Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo Đỗ Văn T không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 (một) xe môtô biển số 70K1-752.31, số máy: KC34E5049564, số khung: RLHKC4403NY020060 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A9 màu đen, số IMEI1: 863476040585679, số IMEI2: 863476041085679, không mở nguồn được của Đỗ Văn T, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đỗ Văn T, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
[9] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12-9-2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 (một) xe môtô biển số 70K1-752.31, số máy: KC34E5049564, số khung: RLHKC4403NY020060 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi A9 màu đen, số IMEI1: 863476040585679, số IMEI2: 863476041085679, không mở nguồn được, là tài sản của bị cáo Đỗ Văn T, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đỗ Văn T, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12-11-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Quyên |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
