TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 14 tháng 11 năm 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Trần Quang Thái.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Quốc Danh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Huy T (Tính Què), sinh ngày 15/3/1989. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công K và bà Hồ Thị L; Vợ tên Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1993; Con có 05 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lương Minh H1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T6. Địa chỉ: số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Lý Hồng T2, sinh năm 1960. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Triệu Đông H2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Anh Trần Văn H3, sinh năm 1985. Nơi cư trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1961. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (văng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn C (vắng mặt).
- Anh Trần Công S (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Novo 95P2-4744 chở người tên T3 (không rõ nhân thân, địa chỉ) qua khu đất trống trước thư viện cũ thuộc khóm Đ, thị trấn N, huyện T, thấy 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá của anh Nguyễn Thành T1, cùng xe đẩy bằng gỗ của anh Lý Hồng T2, không có người trông giữ, nên nảy sinh ý định lấy trộm bán phế liệu có tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, C và T3 đi vào đưa gầu xe cuốc lên xe đẩy nhưng không được. Cẩu và T3 đi đến nhà của Nguyễn Huy T (Tính Q) ở khóm N, thị trấn N, huyện T nhờ Tính đến tiếp đưa gầu lên xe đẩy, T đồng ý vào nhà rủ thêm Trần Công S (T4) đi cùng. Khi đi T điều khiển xe mô tô biển số 68B1-411.09 chở S, C chở T3 quay lại khu đất trống trước thư viện cũ thì T biết C với T3 lấy trộm gầu xe cuốc, xe đẩy nhưng T vẫn đồng ý tiếp giúp. Cẩu giữ hai tay cầm của xe đẩy nâng lên để phần phía sau xe chạm đất còn T, T3 và S dùng sức lăn gầu xe cuốc lên xe đẩy, sau đó C điều khiển xe mô tô chở T3 ngồi phía sau kéo xe đẩy và gầu xe cuốc ra ngoài, T điều khiển xe mô tô 68B1-411.09 chở S chạy theo sau, khi cả nhóm kéo xe đẩy chở gầu xe cuốc ra khỏi khu vực cổng thư viện thì thấy Lực lượng Công an tuần tra nên cả nhóm bỏ lại tang vật xe đẩy, gầu xe cuốc bỏ trốn. Ngày 19/10/2023, biết hành vi bị phát hiện C và T đến Công an thị trấn N đầu thú.
Các ngày 04/3/2024, 22/3/2024, Nguyễn Văn C, Nguyễn Huy T (Tính Q) bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Do T bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra quyết định truy nã. Đến ngày 30/7/2024, T bị bắt theo quyết định truy nã.
Vật chứng thu giữ: 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, trọng lượng 260 kg; 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh đen, biển số 68B1-411.09, số khung 2601GY219077, số máy KC26E1048832; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 062378, mang tên Trần Thị Mỹ T5; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, màu đỏ đen, biển số 95P2-4744, số máy 5P11224713, số khung P110AY224715.
Ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả cho anh Nguyễn Thành T1 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, Lý Hồng T2 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ.
Tại Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 85, 91/KL-HĐĐGTS các ngày 08/11/2023, 17/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 gầu xe cuốc bằng kim loại dùng để phá đá, trọng lượng 260 Kilogram trị giá 13.000.000 đồng; 01 xe đẩy có khung bằng kim loại, sàn bằng gỗ, dùng để đẩy đồ trị giá 500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 102/CT-VKSTS ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Thành T1, Lý Hồng T2 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra khai phù hợp như nội dung vụ án đã nêu. T1, T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Triệu Đông H2 trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Xe mô tô biển số 95P2-4744 của H2 cho C mượn đi mua đồ ăn, xin nhận lại xe.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn D, Trần Văn H3 trình bày xe mô tô biển số 68B1-411.09 của người bạn không rõ họ tên, địa chỉ cầm cho D giá 11.000.000 đồng, quá thời hạn không chuộc lại xe nên D bán xe cho H3 và H3 bán lại cho T. D và H3 không yêu cầu gì thêm.
Người làm chứng Nguyễn Văn C, Trần Công S (T4) đều khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T mức án từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo. Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo thống nhất quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đồng thời nêu lên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo thấp hơn mức án Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Huy T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, bị cáo Nguyễn Huy T cùng với Nguyễn Văn C đến khu vực đất trống thuộc khóm Đ, thị trấn N, huyện T, thực hiện hành vi lấy trộm gầu xe cuốc bằng kim loại của anh Nguyễn Thành T1 trị giá 13.000.000 đồng; 01 xe đẩy khung bằng kim loại, trị giá 500.000 đồng của anh Lý Hồng T2, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Huy T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Huy T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Huy T là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo học vấn không biết chữ, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Huy T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét về nhân thân, vai trò của bị cáo trong vụ án chỉ là người giúp sức để giảm nhẹ cho bị cáo hơn mức Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Đối với Nguyễn Văn C đã bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” vào ngày 27/6/2024.
Đối với Trần Công S, Triệu Đông H2 ngoài lời khai của C ra không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Nguyễn Thành T1 và Lý Hồng T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh đen, số khung 2601GY219077, số máy KC26E1048832 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 062378, mang tên Trần Thị Mỹ T5; biển số đăng ký: 68B1-411.09 là giấy chứng nhận đăng ký xe giả cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo, màu đỏ đen, biển số 95P2-4744, số máy 5P11224713, số khung P110AY224715 là tài sản của Triệu Đông H2, C mượn xe đi lấy trộm tài sản nhưng H2 không biết nên trả lại cho H2.
[8] Về các vấn đề khác: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T (Tính Q) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T (Tính Q) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Huy T (Tính Q) 01 (một) xe gắn máy Honda Winner, màu xanh đen, số khung: 2601GY219077, số máy: KC26E1048832. Trả lại cho Triệu Đông H2 01 (một) xe gắn máy Yamaha Novo, màu đỏ-đen, biển số: 95P2-4744, số máy: 5P11224713, số khung: P110AY224715. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 062378, tên chủ xe: Trần Thị Mỹ T5, địa chỉ: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; biển số đăng ký: 68B1-411.09 (đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn với Công an huyện T)
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Huy T (Tính Q) được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy T phạm tôi trộm cắp tài sản
