Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày 05/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Quang Hợp

2. Ông: Trương Khánh Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Ma Đình Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2024/TLHSST ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 22/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 18/01/1965;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm G, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 2/10; Nghề nghiệp: Không nghề;

Bố: Nguyễn Văn T (Đã chết); Mẹ: Bùi Thị V (Đã chết);

Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973;

Con có 01 con: Nguyễn Minh T2 (Đã chết);

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Tại bản án số: 142/2021/HSST ngày 08/12/2021 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Nguyễn Văn D 24 tháng tù giam, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2023. Chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số: 23/1998/HSST ngày 24/6/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 26 tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp và tạm giam từ ngày 23/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. (Có mặt tại phiên tòa).

*. Người làm chứng:

  1. Anh: Lương Hồng T3, sinh năm: 1988 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Anh: Nguyễn Văn B, sinh năm: 1990 (Có mặt) Địa chỉ: Xóm L, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Anh: Mã Văn Đ, sinh năm: 1979 (Có mặt) Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

*. Người làm chứng:

  1. Chị: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1973 (Có mặt) Địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Chị: Trương Thị T4, sinh năm: 1971 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/06/2024, Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực cầu treo thuộc xóm C, xã P, đã phát hiện 02 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít ma túy vào cơ thể. Hai đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Văn B, sinh năm 1990 và Lương Hồng T3, sinh năm 1988, đều trú tại: xóm L, xã M, huyện Đ. B và T3 khai nguồn gốc chất ma túy các đối tượng sử dụng là do mua của người đàn ông tên là D ở xóm G, xã P, huyện Đ (hay gọi là Dũng Tấu, do có bố tên là T). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 02 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng có kích thước 3x3cm là giấy đựng chất ma túy; 02 mảng giấy bạc có cùng kích thước khoảng 2,5x3cm đã bị đốt cháy một mặt, giấy dùng để hít ma túy; 01 bật lửa gas màu đỏ đã qua sử dụng. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã P đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ tài liệu điều tra, xác minh, hồi 16 giờ 00 phút ngày 22/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ thi hành lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật đối với Nguyễn Văn D. Kết quả khám xét thu giữ đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng; D khai là ma túy, H của D mua về sử dụng cho bản thân (D tự giác giao nộp) niêm phong vào phong bì ký hiệu C; 570.000 đồng tiền ngân hàng N, D để trong túi quần đùi phía sau bên phải đang mặc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy, thu giữ tại khe chân cột phía trước cửa nhà của D, niêm phong vào phong bì ký hiệu D.
  • - Tại mặt bàn gỗ kê trong phòng bếp của gia đình D, phát hiện thu giữ 04 mảnh giấy bạc màu vàng có cùng đặc điểm, kích thước 3x3cm; 01 dao tem đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng không rõ hình, kích thước khoảng dài 5cm, rộng 3cm đã bị cháy xém 01 mặt và 01 bật lửa gas màu xanh đã qua sử dụng.

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 22/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D như sau:

  • - Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C có khối lượng 0,073 gam. Niêm phong vào phong bì ký hiệu C1 làm mẫu giám định.
  • - Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu D có khối lượng 0,036 gam. Niêm phong vào phong bì ký hiệu D1 làm mẫu giám định.

Tại Kết luận giám định số 679/KL-KTHS ngày 30/06/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,073 gam.

Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu D1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,036 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trưng cầu giám định các vật chứng thu giữ của T3 và Bạo trong phong bì niêm phong ký hiệu B.

Tại Kết luận giám định số 861/KL-KTHS ngày 26/07/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

Mẫu gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Hồng T3 và Nguyễn Văn B cùng khai nhận như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, T3 đến nhà B chơi rồi B và T3 rủ nhau đi mua chất ma túy về sử dụng cho bản thân. Do nhiều lần mua ma túy của D, nên B dùng điện thoại của mình có số thuê bao là 0355.750.085 (Đăng ký mang tên B) gọi vào số thuê bao của D (hay gọi là D Tấu do có bố đẻ tên là T) là 0343.520.560 (Đăng ký mang tên D) để hỏi mua chất ma túy về sử dụng, khi D nghe điện thoại B nói với D là “Anh cầm cho em 02 con hai trăm, anh cầm ra ngõ cho em” (nghĩa là hỏi mua chất ma túy của D), thì D trả lời là “Cứ xuống đi” sau đó D tắt máy. Tảo và B đi đến ngõ rẽ vào nhà D nhưng không thấy D đứng ở đầu ngõ, nên T3 và B đi xuống khu vực cầu P, thuộc xóm P, xã P thì dừng lại. Bạo tiếp tục gọi điện cho D, thì D nghe máy, B nói với D là “Anh cầm ra ngõ cho em đi, em đang đi lên anh ra đi”, thì D trả lời “chú đang ra đây”. Đến khoảng 09 giờ 25 phút, khi T3 và B đến ngõ nhà D thì thấy D đang đi bộ ra đầu ngõ, cách đường tỉnh lộ 264 khoảng 15 mét. Tại đây, B đưa cho D 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, bằng tay trái. D dùng tay phải cầm tiền do B đưa và dùng tay trái đưa cho

T3 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chứa 02 gói ma túy loại Heroine đều được gói bằng giấy có một mặt màu vàng và một mặt màu trắng. Tảo nhận ma túy của D đưa, đồng thời T3 dùng tay phải đưa cho D 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, sau khi mua được Heroine của D thì T3 và B đi về khu vực gần cầu treo thuộc xóm C, xã P để sử dụng số Heroine mà cả hai vừa mua được của D, khi T3 và B vừa sử dụng hết số Heroine bằng hình thức hít vào cơ thể, thì bị Tổ công tác Công an xã P, kiểm tra, phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra T3 và B còn khai nhận do nghiện chất ma túy nên đã nhiều lần mua ma túy của D về sử dụng, nhưng không nhớ ngày, tháng, cụ thể:

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn D khai nhận D đang có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. D không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Văn B, Lương Hồng T3, như lời khai của T3 và B. D chỉ khai nhận bản thân có hành vi tàng trữ trái phép 0,073 gam chất ma tuý loại Heroine (Trong phong bì niêm phong ký hiệu C) với mục đích để sử dụng cho bản thân. D không thừa nhận gói Heroine có khối lượng 0,036 gam phát hiện thu giữ tại khe chân cột nhà D là của D. D không biết là của ai, có từ khi nào.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành đối chất, nhận dạng giữa T3, B với D. Kết quả đối chất, nhận dạng, T3 và B đều xác định khoảng 09 giờ 25 phút ngày 22/6/2024 tại khu vực đầu ngõ nhà D, T3 và B mỗi người đưa cho D 200.000 đồng để mua chất Heroine của D rồi cùng nhau sử dụng.

Tiến hành kiểm tra điện thoại và lịch sử cuộc gọi xác định trong khoảng thời gian từ 09 giờ 21 phút đến 09 giờ 25 phút 32 giây ngày 22/6/2024 số thuê bao điện thoại của B và D có giao dịch với nhau.

Mặc dù bị cáo D không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng với tài liệu điều tra, thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo D như tội danh đã khởi tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án, như biên bản sự việc, lời khai của người làm chứng, biên bản, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 05 bì niêm phong ký hiệu C1, C2, D1, D2, B đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 04 mảnh giấy bạc màu vàng có cùng đặc điểm và kích thước 03x03cm; 01 dao tem đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc không rõ hình kích thước 05x03cm, đã bị đốt cháy một mặt và 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, loại có bàn phím, SỐ IMEI: 352588/50/266889/8, bên trong lắp SIM: 0343.520.560 và số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N.

Những vật chứng này hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại Kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại cáo trạng số 110/CT-VKSĐT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ giữ nguyên quyết định truy tố, đã luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn D và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: Điểm c khoản 2 khoản 5 Điều 251 Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 10 năm đến 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024.
  • Về phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đ đến 7.000.000₫
  • Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 05 bì niêm phong ký hiệu C1, C2, D1, D2, B đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 04 mảnh giấy bạc màu vàng có cùng đặc điểm và kích thước 03x03cm; 01 dao tem đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc không rõ hình kích thước 05x03cm, đã bị đốt cháy một mặt và 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, loại có bàn phím, Số IMEI: 352588/50/266889/8, bên trong lắp SIM: 0343.520.560
    • - Truy thu số tiền 400.000đ tiền Ngân hàng N do bị cáo D mua bán ma túy thu lời bất chính mà có.
    • - Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N của bị cáo D để đảm bảo việc thi hành án.
  • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 22/6/2024, tại khu vực nhà ở N ở xóm G, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn D (là người đang có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy) đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Heroine cho Lương Hồng T3, Nguyễn Văn B mỗi người 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được H, T3 và B đi về khu vực cầu treo thuộc xã P, huyện Đ sử dụng hết thì bị Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ vật chứng.

Hồi 16 giờ 00 phút ngày 22/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét người, nơi ở của Nguyễn Văn D tại xóm G, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã thu giữ của D 0,073 gam chất ma túy, loại Heroine D khai để sử dụng cho bản thân và 0,036 gam ma túy loại Heroine D khai không phải ma túy của D cùng các vật chứng liên quan khác.

Lời khai của bị cáo D trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo vẫn cố tình quanh co không thừa nhận hành vi mua bán ma túy của mình và không đưa ra được bất kì tài liệu nào để chứng minh. Hành vi phạm tội của bị cáo D đã được chứng minh bằng các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án, như biên bản sự việc, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, biên bản, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, biên bản đối chất, dữ liệu cuộc gọi thoại....

Hành vi của bị cáo D đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và tội "Mua bán trái phép chất ma túy".Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm c khoản 2, Điều 251 BLHS

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 249 Bộ luật hình sự:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Điều 251 Bộ luật hình sự:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

c) Đối với 02 người trở lên".

[3]. Xét tính chất hành vi:

Xét về tính chất hành vi của bị cáo D có tính chất tội phạm rất nghiêm trọng. Bị cáo D thực hiện hành vi tàng trữ ma túy dùng cho bản thân và mua bán ma túy nhằm kiếm lời. Bị cáo thấy trước được hậu quả và biết rõ tác hại của ma tuý nhưng bị cáo vẫn cố ý mua bán ma tuý và tàng trữ trái phép nhằm mục đích thu lời bất chính. Hành vi nguy hiểm cho xã hội đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma túy nói riêng. Nhưng bị cáo vẫn đi vào con đường phạm tội, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ "Người phạm tội thành khẩn khai báo", quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo không thành khẩn khai báo nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy:

Trước khi phạm tội bị cáo D là người nghiện ma túy, bị cáo D tuy chưa có tiền sự nhưng bị cáo có tiền án và chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo D chỉ thừa nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của mình để hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, nhưng đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo D lại không nhận tội, trong suốt quá trình điều tra và cho đến phiên tòa ngày hôm nay bị cáo D đã không thành khẩn khai báo, bị cáo tiếp tục quanh co, ngoan cố không thành khẩn và không đưa ra được bất cứ tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho hành vi phạm tội của mình. Mặc dù đã có đầy đủ tài liệu để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Đây cũng là một trong những căn cứ để HĐXX xem xét đến mức hình phạt đối với bị cáo D sao cho phù hợp và nghiêm minh.

[5]. Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và khối lượng ma túy thu giữ được nên: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 10 năm đến 11 năm 06 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại điện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo D 5.000.000₫

[6]. Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 05 bì niêm phong ký hiệu C1, C2, D1, D2, B đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 04 mảnh giấy bạc màu vàng có cùng đặc điểm và kích thước 03x03cm; 01 dao tem đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc không rõ hình kích thước 05x03cm, đã bị đốt cháy một mặt và 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, loại có bàn phím, Số IMEI: 352588/50/266889/8, bên trong lắp SIM: 0343.520.560
  • - Truy thu số tiền 400.000đ tiền Ngân hàng N do bị cáo D mua bán ma túy thu lời bất chính mà có.
  • - Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N của bị cáo D để đảm bảo việc thi hành án.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ Nhà nước.

[8]. Về nguồn gốc chất Heroine thu giữ của D 0,073 gam khi khám xét ngày 22/6/2023 D khai mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở khu vực xóm P, xã P với giá 100.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Do không xác định được tên tuổi của người đàn ông này, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có căn cứ để xử lý.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra ngày 06/6/2024, Mã Văn Đ, sinh năm 1979, trú tại xóm P, xã P, huyện Đ (Đang bị điều tra trong vụ án khác) có đơn tố giác nội dung: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/6/2024 tại nhà của D. Đ đã mua ma túy của D 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng sử dụng hết. Căn cứ tố giác của Đ Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã tiến hành kiểm tra xác minh, D không thừa nhận bán ma túy cho Đ như lời khai của Đ. Tiến hành đối chất D không thừa nhận, ngoài lời khai của Đ không còn tài liệu nào khác chứng minh, nên không có đủ căn cứ xem xét xử lý hành vi của D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Còn số ma túy 0,036 gam Heroine thu giữ khi khám xét nhà D, quá trình điều tra D khai nhận không phải của D. D không biết là của ai, có từ bao giờ, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh là của D. Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Hồng T3 và Nguyễn Văn B không cấu thành tội phạm, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

  1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm c khoản 2 khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Điều 38 Điều 47 BLHS; Điều 106 Điều 136 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2024.

  2. Về phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo D 5.000.000₫
  3. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
  4. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 05 bì niêm phong ký hiệu C1, C2, D1, D2, B đều còn nguyên tình trạng niêm phong; 04 mảnh giấy bạc màu vàng có cùng đặc điểm và kích thước 03x03cm; 01 dao tem đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc không rõ hình kích thước 05x03cm, đã bị đốt cháy một mặt và 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng
    • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, đã qua sử dụng, loại có bàn phím, Số IMEI: 352588/50/266889/8, bên trong lắp SIM: 0343.520.560
    • - Truy thu số tiền 400.000đ tiền Ngân hàng N do bị cáo D mua bán ma túy thu lời bất chính mà có.
    • - Tạm giữ số tiền 570.000 đồng tiền ngân hàng N của bị cáo D để đảm bảo việc thi hành án.

    (Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 97/QĐ-VKSĐT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản)

  5. Về án phí: Buộc bị cáo D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên (1b);
  • - Sỏ tư pháp tỉnh Thái Nguyên(1b)
  • - Công an huyện Đại Từ (3b);
  • - VKSND huyện Đại Từ (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ (1b);
  • - THAHS (2b);
  • - Bị cáo (1b); Người có QLNVLQ;
  • - Thông báo UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ





Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger