|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊNHUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/10/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Điệp và bà Phạm Thị Ngọc Huế.
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Đình Tứ, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hương Trà.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Phú, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Trà (số E đường Đ, phường T, thị xã H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 51/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2024; Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QÐST- HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hà Thị H, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng Đăng Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Hà Thị H đều trình bày:
Bà và ông Hoàng Đăng Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay là phường T), thị xã H vào ngày 03/4/1991. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được một thời gian dài, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Đ không quan tâm đến gia đình, thường xuyên rượu bia, không chung thủy và có tình cảm với người khác, ngoài ra còn đánh đập bà làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Năm 2022, bà tiếp tục phát hiện ông Đ có quan hệ ngoại tình với người khác nên đã gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Tuy nhiên do nghĩ đến các con nên sau đó bà đã rút đơn để tìm cách hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng ông Đ vẫn không thay đổi, vợ chồng cũng không còn quan tâm gì đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông Đ để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà H khai bà và ông Đ có 05 con chung là Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 02/01/1992, Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 04/6/1996, Hoàng Thị Phương U, sinh ngày 23/3/2002, Hoàng Thị Bảo N, sinh ngày 30/6/2006 và Hoàng Thị Bảo N1, sinh ngày 25/8/2013. Đối với các con đã thành niên thì việc ở với ai là quyền của các con. Riêng đối với cháu Hoàng Thị Bảo N1 chưa thành niên và bị khuyết tật vận động mức độ đặc biệt nặng, bà H có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/9/2024, bị đơn ông Hoàng Đăng Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân thì như bà H đã trình bày. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì bà H trình bày như vậy là chưa đúng. Vợ chồng thực tế có mâu thuẫn do ông hay uống rượu bia về nhà gây gổ và có lời lẽ không đúng với bà H. Tuy nhiên ông không có quan hệ ngoại tình với ai mà chỉ do bà H ghen tuông vô cớ làm vợ chồng thường xuyên xích mích, cãi vã nhau. Ông thấy hành động của mình như vậy là sai nhưng ông vẫn còn tình cảm với bà H nên nay bà H xin ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông Đ xác nhận vợ chồng ông có 05 con chung như chị M đã khai. Nếu ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục cháu N1 và không yêu cầu bà H cấp dưỡng cho con, do hiện tại ông làm thợ nề, thu nhập mỗi tháng từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 30 tháng 8 năm 2024, chị Hoàng Thị Phương U (là con gái của ông Đ bà H) trình bày: Năm 2014, giữa bố mẹ tôi xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do ba thường xuyên rượu bia, có lời lẽ xúc phạm mẹ, đôi lúc còn đánh mẹ. Đến năm 2022, gia đình tôi phát hiện ba tôi có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Mẹ và gia đình đã khuyên nhủ nhưng không có tác dụng. Nay mẹ xin ly hôn ba thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 25/9/2024 tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế thể hiện: “Thời gian gần đây vợ chồng ông Đ và bà H thường xảy mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không tin tưởng nhau, nghi ngờ việc vợ chồng có tình cảm với người khác. Ngoài ra ông Đ khi uống rượu bia vào thường có lời lẽ to tiếng với bà H. Hiện bà H là người trực tiếp nuôi cháu Hoàng Thị Bảo N1, là người bị khuyết tật vận động, mức độ đặc biệt nặng. Nay bà H yêu cầu ly hôn, trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng thì đề nghị Tòa án gải quyết để đảm bảo cho quyền lợi của phụ nữ và trẻ em”.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông Đ, xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Bảo N1 và thay đổi mức cấp dưỡng, yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Tại phiên toà, ông Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà có ý kiến:
[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hà Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị H được ly hôn ông Hoàng Đăng Đ.
Về con chung: Giao Hoàng Thị Bảo N1, sinh ngày 25/8/2013 cho bà Hà Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H, ông Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bà H, ông Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Hà Thị H khởi kiện ly hôn với ông Hoàng Đăng Đ. Ông Đ có nơi cư trú tại: Tổ dân phố C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Đ đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Đăng Đ và bà Hà Thị H có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H vào ngày 10/9/1994 (số A, năm 1994). Như vậy, hôn nhân giữa ông Đ và bà H là hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Hà Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình bà H và ông Đ chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Đ hay rượu chè, về nhà có lời lẽ xúc phạm bà H, thỉnh thoảng còn đánh đập bà, làm mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Trên thực tế vợ chồng vẫn sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm gì đến nhau là phù hợp với xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng ông Đ không đến Toà án để hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với bà H là thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, nên mục đích hôn nhân là không thể đạt được.
Xét thấy hôn nhân giữa ông Đ và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của bà H, cho bà H được ly hôn ông Đ.
[2.3] Về con chung: Bà H và ông Đ có 05 con chung là Hoàng Thị Hoài T, sinh ngày 02/01/1992, Hoàng Thị Phương T1, sinh ngày 04/6/1996, Hoàng Thị Phương U, sinh ngày 23/3/2002, Hoàng Thị Bảo N, sinh ngày 30/6/2006 và Hoàng Thị Bảo N1, sinh ngày 25/8/2013. Do cháu Hoàng Thị Bảo N1 chưa thành niên và bị khuyết tật vận động mức độ đặc biệt nặng, nên bà H có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1.
Xét yêu cầu nuôi cháu N1 sau khi ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử thấy rằng: cháu N1 là người chưa thành niên, lại bị khuyết tật mức độ đặc biệt nặng, sống phụ thuộc không có khả năng tự chăm sóc bản thân, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi bản thân mình, đồng thời bà H là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N1 từ khi sinh ra cho đến nay. Do đó, cần giao cháu N1 cho bà H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan nhằm đảm bảo quyền lợi mọi mặt và sự phát triển bình thường của cháu N1.
Đối với các con chung khác của bà H và ông Đ hiện đã trưởng thành, không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Xét yêu cầu của bà H về việc yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức 2.000.000 đồng/tháng. Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Mặt khác ông Đ cũng xác nhận có thu nhập bình quân mỗi tháng 6.000.000 đồng-7.000.000 đồng là phù hợp với mức cấp dưỡng bà H yêu cầu. Do đó cần buộc ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi có sự thay đổi khác.
[2.5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.6] Về án phí:
- - Án phí ly hôn: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- - Án phí cấp dưỡng: Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Hà Thị H đối với ông Hoàng Đăng Đ1 việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Bà Hà Thị H được ly hôn ông Hoàng Đăng Đ.
- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Thị Bảo N1, sinh ngày 25/8/2013 cho bà Hà Thị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi có sự thay đổi khác.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.Thời gian cấp dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi có sự thay đổi khác.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản cấp dưỡng nuôi con) mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H, ông Đ không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí:
- - Bà Hà Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 1627 ngày 03/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Bà H đã nộp đủ.
- - Ông Hoàng Đăng Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 11/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
