Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thắng.
  2. Ông Nguyễn Văn Huyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Đạt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Trương Mạnh Q, sinh năm 1999.

Nơi sinh, cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Anh T và bà Phạm Thị T1; vợ: Nguyễn Thị Thu T2; con: Có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Tùng L, sinh năm 1996.

Nơi sinh, cư trú: Phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng S và bà Kiều Thị Kim T3; vợ: Nguyễn Thị Cẩm N; con: Có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Nguyễn Hiệp H, sinh năm 2002.
  • Lê Đức H1, sinh năm 1990.
  • Lê Văn T4, sinh năm 1992.
  • Lê Đức Q1, sinh năm 2001.
  • Trương Văn Đ, sinh năm 1996.
  • Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh H, đều vắng mặt.
  • Nguyễn Đức H2, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số nhà A, Tổ D phố N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Nguyễn Đức H3, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Lý Hoàng H5, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Lê Văn T5, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Bùi Văn H6, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ3. Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ giao dịch: Số A N, quận T, Thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T6 – Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đình K – Phó Tổng giám đốc. Người được ủy quyền lại: Ông Lê Văn T7 – Giám đốc khởi kiện địa bàn Hà Nội.
  • Ông Lê Văn H7 – Chuyên viên chính xử lý nợ.
  • Anh Văn Thành Đ1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Chị Chu Mai P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm T, thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ngân hàng Thương mại Cổ phần V1 – chi nhánh N1. Địa chỉ: Số I đường L, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
  • Chị Lê Thị Kiều T8, sinh năm 1991. Địa chỉ: C M khu đô thị E, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Chị Nguyễn Thị H8, sinh năm 1986. Địa chỉ: Nhà số I, Đ B Thôn T, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội.
  • Chị Đặng Thị T9, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, phường T, quận L, Thành phố Hà Nội.
  • Anh Phạm Quang V, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn H, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.
  • Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quan hệ quen biết nhau nên khoảng 18 giờ ngày 20/02/2024 Nguyễn Hiệp H; Lê Đức Q1 (tức Q1 trắng); Nguyễn Ngọc H4; Trương Mạnh Q (tức Q đen), Nguyễn Đức H3; Nguyễn Tùng L; Nguyễn Đức H2; Đỗ Đức C ở thôn P, xã L, huyện V; anh Nguyễn Công T10 ở thôn M, thị trấn N, huyện V và anh Đàm Văn T11 ở thôn H, xã L, huyện V tỉnh Hưng Yên cùng rủ nhau đi uống bia. Sau đó tất cả về nhà của anh T11 ở khu A địa chất, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên ngồi uống nước, còn anh T10, anh T11 đi có việc. Đến khoảng 00 giờ ngày 21/02/2024, do có mâu thuẫn trong việc vay nợ tiền giữa Nguyễn Hiệp H với Văn Đức T12 (tức M) sinh năm 1992 ở thôn B, xã L, huyện K, Hưng Yên nên trước đó (khoảng 23 giờ ngày 20/01/2024), Nguyễn Hiệp H gọi điện thoại cho T12 về việc nợ tiền nêu trên giữa hai bên có lời lẽ chửi, xúc phạm và thách thức nhau. T12 đe dọa: “mày ra đường cẩn thận đấy”, Nguyễn Hiệp H nói: “em đang ở Dốc Vật Giá, anh sang đây”. T12 nói “tao sang đây”. Lúc này Nguyễn Hiệp H nghĩ T12 sẽ dẫn người và mang hung khí sang để đánh Nguyễn Hiệp H nên Nguyễn Hiệp H đã bảo Lê Đức Q1 (tức Q1 trắng) và H4 đi lấy đồ (tức phóng lợn, kiếm) để đánh lại T12 thì cả hai đồng ý, Q1 (trắng) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH biển số 89L1 412.57 chở H4 đi lấy 04 phóng lợn và 01 kiếm dài khoảng 95cm (trước đó Nguyễn Hiệp H và Q1 (trắng) nhặt được ở khu vực Nghĩa trang T18 rồi cất ở khu nhà hoang thuộc cánh đồng thôn T, thị trấn N). Khi Nguyễn Hiệp H đi ra ngoài cửa nhà anh T11 thì Trương Mạnh Q (tức Q đen), Nguyễn Đức H3, L và C cũng đi ra theo đều thấy Q (trắng) và H4 mang 04 chiếc phóng lợn và 01 thanh kiếm đến để ở trước cửa hàng sửa chữa xe đạp, xe điện “Đức Chính” ở khu A địa chất, xã T, sau đó Q (trắng), H4 đi vào nhà anh T11. Tại nhà anh T11, Nguyễn Hiệp H nói với tất cả mọi người: “Tuấn M nó đi sang đây bây giờ” đồng thời Nguyễn Hiệp H bảo mọi người mang phóng lợn, kiếm ra khu vực Cầu G thuộc thôn B, xã T (gần lối rẽ vào Công ty T19) để cất giấu và đợi T12 đến để đánh thì tất cả đều đồng ý. Nguyễn Đức H3 liền cầm 01 phóng lợn rồi mang cất ở trước cửa nhà anh Nguyễn Kiên C1 ở thôn B, xã T, còn H4 cầm 03 phóng lợn, 01 kiếm đến cất ở khu vực luống rau gần đó, những người còn lại đi theo sau ra khu vực Cầu G. Sau đó, Nguyễn Hiệp H đứng ra giữa đường liên xã T - T tại lối đi vào Công ty T19, còn lại tất cả đứng lấp trong chỗ tối để chờ T12 đến. Đến khoảng 00 giờ 14 phút cùng ngày, T12 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu trắng biển số 35A – 274.07 đi hướng từ Dốc Vật Giá qua nhà anh T11, đến khu vực lối rẽ vào Công ty T19, T12 xuống xe gặp Nguyễn Hiệp H. T12 chửi “Đ.m mày, mày định ăn tao à”, Nguyễn Hiệp H liền giơ tay đấm 01 cái vào mạng sườn bên trái của T12, T12 cũng đấm 01 cái vào người của Nguyễn Hiệp H rồi bỏ chạy về hướng Dốc Vật Giá. H chửi T12 “Đ.m mày, Đ.m mày” và hô to “Em bị đánh rồi”. Thấy Nguyễn Hiệp H bị đánh nên cả nhóm gồm H4, C, L, Nguyễn Đức H3, Lê Đức Q1 và Trương Mạnh Q đang lấp trong chỗ tối cùng xông ra hò hét đuổi theo để đánh T12. Khi T12 chạy đến trước cửa tiệm “Hằng S1” (cách khoảng 5m) thì T12 bị ngã xuống nền đường. Lúc này nhóm của Nguyễn Hiệp H cũng đuổi kịp T12. Nguyễn Hiệp H, C, H4, Nguyễn Đức H3 vừa hò hét, chửi bới, dùng chân, tay đấm đánh T12, những người còn lại đứng vây xung quanh T12. Lúc này Nguyễn Đức H2 từ trong nhà anh T11 chạy ra chỗ T12 dùng tay tát 01 cái vào mặt T12, ghì và giữ T12 nằm xuống đường đồng thời chửi T12: “Tuấn Mun, mày ném cứt vào nhà cháu tao, T12, Đ.mẹ mày, chúng mày coi thường tao, đ. Mẹ mày T12 mun ơi mày coi thường tao đấy” rồi tiếp tục tát 2-3 cái vào mặt của T12. Sau đó, anh Đặng Duy T13 sinh năm 1992 ở thôn C, xã V, huyện V đến can ngăn và đưa T12 lên xe ô tô của T13. Lúc này Nguyễn Hiệp H, H2 chạy đuổi theo, Nguyễn Hiệp H mở cửa xe ô tô ra đạp vào người T12, H2 cũng xông vào tát T12. Anh T13 chở T12 đến chỗ xe ô tô của T12, T12 lên xe ô tô rồi điều khiển xe đi qua trước cửa nhà anh T11, T12 hạ kính xe xuống rồi chửi nhóm của Nguyễn Hiệp H. Sau đó T12 điều khiển xe ô tô đi về hướng Dốc vật giá. Khoảng 05 phút sau, T12 điều khiển xe ô tô quay lại tiếp tục chửi nhóm của Nguyễn Hiệp H. T12 điều khiển xe ô tô đi qua đi lại trục đường khu A địa chất 2-3 lần, rú ga bấm còi xe và chửi nhóm của Nguyễn Hiệp H. Thấy vậy Nguyễn Hiệp H cầm lon nước ngọt ném vào xe ô tô của T12 tạo ra tiếng động lớn. Sau đó T12 điều khiển xe đi về hướng thôn N rồi lại điều khiển xe quay lại chỗ của Nguyễn Hiệp H. Nguyễn Hiệp H nghĩ T12 kéo người sang đánh nhóm H nên hô to: “lấy đồ, lấy đồ”. Thấy T12 hạ kính xe ô tô xuống chửi nhóm của H chỉ có mình T12 nên nhóm của H không đi lấy hung khí nữa, T12 điều khiển xe đi về, còn nhóm của Nguyễn Hiệp H cũng đi về. Sau đó Lê Đức Q1, Nguyễn Tùng L, Trương Mạnh Q và Đỗ Đức C đã bỏ trốn. Vật chứng thu giữ: tại khu vực luống rau cạnh mương nước trục đường vào Công ty T19 01 thanh kiếm có vỏ bọc bằng gỗ được sơn màu đỏ, tổng chiều dài 95cm, chuôi tay cầm bằng gỗ dài 23cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 72cm; 02 thanh kim loại đều có chiều dài 2,2m, mỗi đầu đều hàn gắn dao bầu; 01 thanh kim loại ống tròn đường kính 2cm, dài 1,70m, một đầu có hàn gắn dao bầu. Tại trước cửa nhà anh C1: 01 thanh kim loại dạng ống có đường kính 2cm, dài 1,7m, một đầu hàn gắn dao bầu. Vật chứng này các bị cáo chuẩn bị mục đích để sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 10/5/2024, Lê Đức Q1 cũng tự nguyện giao nộp 01 nhãn hiệu Honda SH biển số 89L1 - 412.57.

Sau khi bị đánh, T12 điều khiển xe ô tô đi về Văn phòng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T20 ở địa chỉ số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sau đó nhóm của Tuấn M gồm Lê Đức H1, Lê Văn T4, Lê Văn T5, Trương Văn T14, Bùi Trung H9, Lý Hoàng H5, Trương Văn Đ, Hoàng Xuân C2, Lê Xuân T15 tham gia nhóm, chuẩn bị hung khí nguy hiểm gồm súng là công cụ hỗ trợ, dao, tuýp sắt, nắm đấm thép đi 03 xe ô tô sang tìm đánh nhóm Nguyễn Hiệp H. Khi Cơ quan Công an ngăn chặn, giải quyết các đối tượng đã có hành vi chống đối lực lượng chức năng thi hành nhiệm vụ. Ngoài ra Trương Văn Đ và Ngô Quang T16 còn thực hiện hành vi đánh bạc.

Trương Mạnh Q đến ngày 27/5/2024 đã ra đầu thú, Nguyễn Tùng L đến ngày 28/5/2024 cũng ra đầu thú.

Bản cáo trạng số 105/CT-VKS, ngày 25 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, truy tố: Các bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L đều phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L, mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo được hưởng án treo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Các biện pháp tư pháp: Đã được giải quyết xong trong vụ án trước đây.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử được tống đạt cho bị cáo đúng pháp luật; việc lấy lời khai những người tham gia tố tụng, hỏi cung bị can đều đảm bảo. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xác định việc điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung; tại phiên tòa các các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Do có mâu thuẫn trong việc vay nợ tiền giữa Nguyễn Hiệp H và Văn Đức T12 (Mun) nên khoảng 00 giờ ngày 21/02/2024 tại trục đường khu A địa chất, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Hiệp H đã chỉ đạo Lê Đức Q1, Nguyễn Ngọc H4 chuẩn bị hung khí (phóng lợn, kiếm) rồi cả nhóm gồm: Nguyễn Hiệp H, Lê Đức Q1, Nguyễn Ngọc H4, Nguyễn Đức H3, Trương Mạnh Q, Nguyễn Tùng L, Đỗ Đức C, Nguyễn Đức H2 đã thực hiện hành vi hô hét, chửi bới, đuổi đánh T12 và dùng lon nước ngọt ném vào xe của T12, còn T12 sử dụng xe ô tô biển số 35A-274.07 chửi bới, bấm còi, rú ga gây náo loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực đông dân cư.

Đối với nhóm đối tượng thực hiện hành vi có ý gây thương tích theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, đánh bạc. Ngày 10/9/2024 Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm đã xét xử đối với các bị cáo, quyết định hình phạt, giải quyết xong về các biện pháp tư pháp, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Đối với Đỗ Đức C, Văn Đức T12, Trần Văn T17, Lê Xuân T15, Hoàng Xuân C2 bỏ trốn và bị truy nã, sau này bắt được sẽ xem xét theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi của Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội.

Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo phải nhận thức được rằng, giao dịch dân sự hoặc quan hệ có liên quan giữa các bên cần được thỏa thuận, giải quyết theo quy định của pháp luật, trường hợp các bên không tự giải quyết được thì có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật; phải tôn trọng các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các chủ thể khác. Tuy nhiên các bị cáo với ý thức coi thường pháp luật, tự giải quyết các mâu thuẫn cá nhân nhưng vi phạm pháp luật; Các bị cáo chuẩn bị hung khí nguy hiểm, đuổi đánh T12 mun, hò hét, sử dụng hung khí, lon nước ném, gây tiếng động lớn, thời gian xảy ra vào ban đêm, ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của người khác, gây mất an ninh trật tự.

Trong vụ án này, Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L giữ vai trò đồng phạm giúp sức tích cực. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo như nêu trên, cần có mức hình phạt tương xứng thì mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời phòng ngừa hành vi tương tự xảy ra.

Khi đánh giá về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã ra đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự các bị cáo được hưởng.

Trên cơ sở đánh giá vai trò, tính chất hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nêu trên, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện cho các bị cáo hưởng án treo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, cho Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đối với tội Gây rối trật tự công cộng, điều luật không quy định hình phạt bổ sung, nên không xem xét.

[3] Các biện pháp tư pháp; Về vật chứng: Đã được xử lý xong trong vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án, buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L đều phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với cả hai bị cáo.

Xử phạt: Bị cáo Trương Mạnh Q 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tùng L 02 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về án phí: Buộc bị cáo Trương Mạnh Q và Nguyễn Tùng L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân,
  • Công an huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng (criminal case)

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng Quang Lâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger