|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/DS - ST Ngày: 24-9-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xoa
- Ông Hoàng Minh Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án của TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 207/2024/QĐST-HPT ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 207/2024/TB-TA ngày 19 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Oanh T - Sinh năm: 1986; Địa chỉ: Tổ A, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Phương T1. Sinh năm: 1996. Địa chỉ Số A N, thành phố H, tỉnh Quảng Nam, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Bà Đinh Thị Quỳnh A. Địa chỉ HKTT: Số D N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ tạm trú: Số A, T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2024 và bản tự khai ngày 31/7/2024 đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Đỗ Thị Phương T1 trình bày:
Vào ngày 08/10/2022, bà T chuyển khoản qua số tài khoản 107005519352, tại Ngân hàng C (V), đứng tên chủ sở hữu tài khoản là Đinh Thị Quỳnh A cho bà A vay số tiền 3.000.000đ. Vào ngày 22/11/2022, bà T tiếp tục chuyển khoản cho bà A vay theo số tài khoản như nêu trên số tiền 5.000.000đ. Vào ngày 28/11/2022, bà T chuyển khoản cho bà A vay thêm 2.000.000đ. Sau đó, đến ngày 12/06/2023, bà Đinh Thị Quỳnh A có đến gặp trực tiếp bà T và xin vay số tiền 50.000.000đồng vì bà A là em dâu của bà T nên bà T đã đồng ý cho bà A vay và giao đủ cho bà A 50.000.000đ tiền mặt. Đến ngày 22/06/2023, bà T lại tiếp tục cho bà Đinh Thị Quỳnh A vay thêm số tiền 50.000.000đ, đến ngày 24/06/2023 bà T lại cho bà A vay thêm số tiền 5.000.000đ. Đến ngày 29/6/2023, bà T lại tiếp tục cho bà A vay thêm số tiền là 300.000.000đồng. Những lần vay tiền từ ngày 22/06/2023 đến 29/06/2023 là do bà T chuyển khoản trực tiếp qua cho bà A thông qua số tài khoản 107005519352, tại Ngân hàng C (V), đứng tên chủ sở hữu tài khoản là Đinh Thị Quỳnh A. Như vậy, tổng số tiền mà bà A đã vay của bà Thư từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2023 là 415.000.000đồng.
Vì là chị em trong nhà nên bà T cho bà A vay không lãi suất. bà A trả cho bà T được 80.000.000đ, số tiền còn lại là 335.000.000đ bà A chưa có khả năng trả tiền cho bà T nên bà T cũng đồng ý thỏa thuận cho bà A trả nợ chậm nhất là đến ngày 04/08/2023, sau đó đến hết ngày 04/08/2023, bà A vẫn chưa có khả năng hoàn trả lại số tiền 335.000.000₫ (Ba trăm ba mươi lăm triệu đồng Việt Nam) đã vay cho bà T nên đã gọi điện xin gia hạn thời gian trả tiền đến ngày 15/09/2023 và được bà T đồng ý gia hạn thời gian trả tiền đến ngày 15/09/2023, sau đó bà T đã nhiều lần yêu cầu bà A trả nợ nhưng bà A không thực hiện việc trả nợ.
Đến 11/4/2024, bà Đinh Thị Quỳnh A đã viết giấy nhận nợ với số tiền nhận nợ là 200.000.000 đồng và có hứa bằng miệng rằng sẽ thu xếp thanh toán cho bà A trong vòng 01 tuần kể từ ngày 11/4/2024. Tuy nhiên, mặc dù đã hết thời hạn vay mượn, bà T cũng đã rất nhiều lần yêu cầu bà A phải hoàn trả lại khoản vay mượn nhưng bà A vẫn chưa chịu trả, số tiền nêu trên là tiền bà T dành dụm để xây nhà, hiện tại bà T đang xây nhà và rất cần khoản tiền này để có chi phí cho việc xây dựng nhà nhưng bà A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà A chây ì và cố tình muốn chiếm đoạt toàn bộ số tiền này của bà T làm cho bà T rơi vào tình thế vô cùng khó khăn và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của bà T. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giải quyết: Buộc bà Đinh Thị Quỳnh A trả lại cho bà T số tiền đã vay là 335.000.000đ và không yêu cầu bà A trả tiền lãi suất. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Đinh Thị Quỳnh A phải trả số tiền 200.000.000đ và không yêu cầu bà A phải trả tiền lãi.
Tại bản tự khai ngày 20/9/2024 bị đơn bà Đinh Thị Quỳnh A trình bày: Bà A xác nhận có vay của bà Trần Thị Oanh T số tiền 280.000.000đ và đã được 80.000.000đ. Ngày 11/4/2024 bà A có viết giấy nhận nợ xác nhận còn nợ bà T số tiền 200.000.000đ. Tuy nhiên, sau khi viết giấy nhận nợ bà A vẫn không có khả năng trả nợ cho bà T do điều kiện kinh tế khó khăn. Nay bà T khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản bà A xác nhận còn nợ bà T số tiền 200.000.000đ và xin Toà án tạo điều kiện về thời gian để bà A thương lượng với bà T xin gia hạn thêm thời gian trả nợ để bà T rút đơn khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Đinh Thị Quỳnh A có địa chỉ cư trú tại quận H, thành phố Đà Nẵng nên Tòa án nhân dân quận Hải Châu có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo thay đổi thời gian xét xử cho các đương sự nhưng tại phiên tòa hôm nay đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà Đinh Thị Quỳnh A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào b khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung: Qua mối quan hệ chị chồng và em dâu nên bà Trần Thị Oanh T đã nhiều lần cho bà Đinh Thị Quỳnh A mượn tiền bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản số [...] của bà Đinh Thị Quỳnh A tại Ngân hàng C (V) và cho mượn tiền mặt. Ngày 11/4/2024 bà Đinh Thị Quỳnh A viết giấy nhận nợ xác nhận có nợ bà Trần Thị Oanh T số tiền 200.000.000đ. Sau khi viết giấy nhận nợ bà A vẫn không thực hiện việc trả tiền. Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà A phải trả cho bà T số tiền 200.000.000đ và không yêu cầu tính lãi. Bị đơn bà A xác nhận có nợ bà T số tiền 200.000.000đ và trình bày do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa trả được nợ cho bà T, bà A xin Toà án tạo điều kiện về thời gian để bà A thoả thuận thương lượng với bà T để bà T rút đơn khởi kiện.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Việc bà Đinh Thị Quỳnh A vay tiền của Trần Thị Oanh T là có thật. Bà T đã cung cấp cho Toà án giấy nhận nợ ngày 11/4/2024 do bà Đinh Thị Quỳnh A viết ngày 11/4/2024 xác nhận nợ bà T số tiền 200.000.000đ và bà A cũng đã thừa nhận khoản nợ này đồng thời xác nhận kể từ khi viết giấy nợ đến nay bà A chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T. Xét giao dịch dân sự giữa bà T và bà A là hợp pháp, các bên tham gia giao dịch đều đảm bảo năng lực trách nhiệm dân sự và xác lập giao dịch trên cơ sở tự nguyện thoả thuận. Do đó phải chịu trách nhiệm với những nội dung mà mình đã xác lập. Hội đồng xét xử xét thấy giấy nhận nợ ngày 11/4/2024 không ghi thời điểm trả nợ, không thoả thuận về lãi suất, nguyên đơn trình bày đã nhiều lần yêu cầu bà A trả tiền nhưng bà A không trả, bà A cũng đã thừa nhận chưa trả tiền cho bà T. Do đó, có cơ sở xác định bà A đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với bà T theo quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đinh Thị Quỳnh A phải trả cho bà Trần Thị O Thư số tiền 200.000.000đ.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) bị đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 463, 466, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Oanh T đối với bà Đinh Thị Quỳnh A về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Xử:
1. Buộc bà Đinh Thị Quỳnh A phải trả cho bà Trần Thị Oanh T số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) bà Đinh Thị Quỳnh A phải chịu.
3. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Mỹ Dung |
Bản án số 114/2024/DS - ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 114/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
