Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ;

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Minh Quý

Ông Xè A Gia

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa:

Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đèo Văn T; sinh ngày: 10/4/1984, tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đèo Văn P (đã chết); Con bà: Lò Thị T1, sinh năm 1944; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2023 đến ngày 27/4/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Đến ngày 11/6/2024 bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào hồi 21 giờ 00 phút, ngày 21/4/2023, tại đoạn đường thuộc thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã M đang làm nhiệm vụ thì phát hiện, bắt quả tang Đèo Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine trong túi quần bên trái đang mặc, có khối lượng 0,11 gam.

Về nguồn gốc số ma túy trên, T khai nhận tại Cơ quan điều tra: 01 gói ma túy, loại Heroine mà T có được là do: vào khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 21/4/2023, T đi bộ từ nhà đến thôn T, xã M, huyện P tìm mua Heroine về mục đích để sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Giáy không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh) giá 100.000 đồng. Mua được H, T cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về nhà và không cho ai biết. Vật chứng Công an thu giữ của T khi bắt quả tang: 01 gói Heroine. Ngày 27/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P khởi tố vụ án, bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đèo Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong thời gian điều tra, T bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 11/6/2024 T bị bắt theo quyết định truy nã.

Đối với 0,11 gam Heroine thu giữ của Đèo Văn T, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật.

Tại Kết luận giám định số 43KL-GĐVV ngày 21/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 488/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K Công an Tỉnh L kết luận: một gói chất bột màu trắng thu giữ của Đèo Văn T có khối lượng là 0,11 gam, gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số 74/CT-VKS, ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Đèo Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đèo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đèo Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đèo Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến, khiếu nại về cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cũng như không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện: vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Đèo Văn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,11 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã M phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy, Đèo Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc Giáy, không rõ lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ đối với người đàn ông này. Bị cáo Đèo Văn T là người nghiện chất ma túy lâu năm, bị cáo đi mua Heroine về tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Đối với 0,11 gam Heroine thu giữ của Đèo Văn T, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật. Lời khai nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Đèo Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, có cơ sở để

khẳng định hành vi của bị cáo Đèo Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản... Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 01 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở. Xét thấy, các vật chứng trên đều là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo Đèo Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. [1] Tuyên bố bị cáo Đèo Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. [2] Về hình phạt: xử phạt bị cáo Đèo Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, được trừ đi 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 03 (ba) tháng 24 (hai bốn) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. [3] Về vật chứng: tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 9 giờ 00 phút ngày 06/9/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

  4. [4] Về án phí: bị cáo Đèo Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.
  5. [5] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CQ CSĐT Công an huyện Phong Thổ;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Phong Thổ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger