|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 29/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Thanh Trà
- Ông Nguyễn Xuân Tùng
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Song C. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/9/1992; tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú và chỗ ở: K P, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Cha: Trương Song C1 (sinh năm 1964); Mẹ: Chu Thị T (sinh năm 1965)
Tiền án: Không
Tiền sự: Không
Bị cáo hiện đang bị giam tại Trại tạm giam công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.
Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Bị hại: Công ty cổ phần T7;
Địa chỉ: P, tổ C, khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Trung P, sinh năm 1988. (Có mặt)
Địa chỉ: F T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Công ty TNHH T8 B. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: A N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
- - Ông Cù Xuân T1, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: F T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
- - Ông Lê Duy T2, sinh năm 1995. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: 2 M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
- - Bà Đoàn Thị T3, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: B N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng.
- - Ông Dương Đức T4, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: K H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
- - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1957. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: K T, quận H, thành phố Đà Nẵng
- - Ông Hồ Ngọc Á, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
- Địa chỉ: H N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Song C là nhân viên Công ty cổ phần T7 - địa chỉ: P, tổ C, khối phố N, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Từ tháng 6 năm 2023, bị cáo C được Công ty giao nhiệm vụ phụ trách Cửa hàng G - tại địa chỉ: E Đ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Nhiệm vụ của bị cáo là nhận gas từ Công ty Cổ phần T7 sau đó bán cho khách hàng, thu tiền, ghi chép số lượng bán ra hàng ngày vào sổ và nộp tiền về công ty vào sáng ngày hôm sau. Từ tháng 6 đến ngày 17/11/2023, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý của Công ty Cổ phần T7 thực hiện việc bán gas cho các cửa hàng, hộ dân, khách lẻ nhưng không ghi số lượng đã bán vào sổ, không nộp tiền hoặc chỉ nộp một phần cho Công ty Cổ phần T7, chiếm đoạt 70.318.000 đồng, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 10/11/2023: bán cho cửa hàng G1 (địa chỉ: F T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng) 32 bình gas PM, đơn giá 265.000 đồng/ bình, tổng trị giá 8.480.000 đồng nhưng chỉ nộp về Công ty 3.480.000 đồng, chiếm đoạt 5.000.000 đồng.
- Lần 2: Ngày 15/11/2023: bán cho cửa hàng G Tốt 20 bình gas PM, đơn giá 265.000 đồng/ bình, tổng trị giá 5.300.000 đồng, thu nợ cửa hàng Gas Tốt 5.000.000 đồng; bán cho khách lẻ 01 bình gas PM, đơn giá 430.000 đồng/bình. Tổng trị giá 10.730.000 đồng nhưng chỉ nộp về Công ty 5.000.000 đồng, chiếm đoạt 5.730.000 đồng.
- Lần 3: Ngày 17/11/2023: bán cho cửa hàng G Tốt 24 bình gas PM, đơn giá 265.000 đồng/ bình, tổng trị giá 6.360.000 đồng nhưng không nộp về Công ty.
- Lần 4: T5 nợ tiền gas trong tháng 10/2023 của quán Bánh bèo T3 – địa chỉ B N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng 4.480.000 đồng nhưng không nộp về Công ty.
- Ngoài 04 lần trên, C đã chiếm đoạt 48.748.000 đồng tiền bán gas cho các khách lẻ, hộ dân, thu nợ tiền gas của quán Bánh bèo T3 nhưng không ghi sổ nhật ký bán hàng, bị cáo C không nhớ số tiền mỗi lần bán nên không đủ căn cứ xác định số tiền chiếm đoạt từng lần.
Ngày 18/11/2023, nhận thấy cửa hàng G đã nhiều ngày không nộp tiền về Công ty, nên Công ty cử ông Hoàng Trung P (sinh năm: 1988; trú: 02 T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) đến kiểm tra, phát hiện C đã chiếm đoạt số tiền 70.318.000 đồng và làm mất 09 vỏ bình gas, ông P đã lập biên bản. Bị cáo C hẹn sẽ trả toàn bộ số tiền trong thời hạn 01 tháng nhưng sau đó bị cáo C không trả và tự ý nghỉ việc. Công ty không liên lạc được nên ngày 20/12/2023, ông Phương T6 báo Công an phường H, quận H.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ từ ông Hoàng Trung P:
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty cổ phần T7 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh của cửa hàng G.
- + 01 Giấy ủy quyền do ông Nguyễn Tiến Đ ủy quyền cho ông Hoàng Trung P tham gia giải quyết vụ án.
- + Điều lệ của Công ty cổ phần T7.
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty G2 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy ủy quyền của ông Hồ Đình Thanh B1 (sinh năm: 1981; trú: Tổ 14, KV5, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) làm giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty G2 ủy quyền cho ông Nguyễn Tiến Đ (bản photo).
- + 01 sổ nhật ký bán hàng tại cửa hàng G, từ ngày 03/11/2023 đến hết ngày 17/11/2023 do Trương Song C ghi nội dung bán hàng. (bản chính)
- + 01 biên bản sự việc do Công ty cổ phần T7 và Trương Song C ký nhận vào ngày 20/11/2023 (bản chính).
- + 01 Quyết định số 27/QĐ-TĐ ngày 01/06/2023 về việc tiếp nhận lao động của Công ty G2 đối với Trương Song C (bản chính).
- + 01 Điều lệ Công ty G2 (bản photo).
- + 01 ủy nhiệm chi (bản photo).
- + 01 bảng tính BHXH tháng 10/2023 (bản photo).
- + 01 thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (bản photo).
- + 26 hóa đơn giá trị gia tăng, gồm các số hóa đơn sau: 10287; 10135; 10140; 11049; 9818; 7346; 7430; 7567; 7786; 7909; 8337; 8434; 8507; 8510; 8636; 8680; 8759; 8855; 8869; 8978; 9003; 9190; 9191; 9237; 9305; 9430 (bản photo có đóng dấu công ty).
- + 01 bảng tổng hợp công nợ (bản chính);
- + 01 bảng xác nhận công nợ của quán B2 (bản chính).
- + 39 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn giữa C và anh P về việc C thừa nhận chiếm đoạt tiền của Công ty CP T7.
- Thư giữ từ ông Dương Đức T4 - nhân viên quán bánh bèo T3 (sinh năm: 1993; trú: K H, quận L, thành phố Đà Nẵng): 04 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn qua ứng dụng Zalo giữa C và ông T4 về việc C nhờ ông T4 xác nhận nợ số tiền 15.130.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trương Song C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản như trên. Việc khai nhận của C phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án toàn bộ vật chứng thu giữ như nêu trên.
Về dân sự: Công ty cổ phần T7 yêu cầu bồi thường 72.568.000 đồng (Gồm 70.318.000 đồng tiền bán ga, thu nợ và 2.250.000 đồng tiền bồi thường 9 vỏ bình ga bị mất) C đã bồi thường được 11.704.400 đồng, còn lại là 60.863.600 đồng.
Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSHC ngày 26/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trương Song C về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Song C từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”. Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên lưu trữ các vật chứng kèm theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại hồ sơ. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định: Bị cáo Trương Song C là nhân viên của Công ty cổ phần T7. Bị cáo được giao phụ trách cửa hàng G - tại E Đ, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo có nhiệm vụ nhận gas từ Công ty Cổ phần T7 sau đó bán cho khách hàng, thu tiền, ghi chép số lượng bán ra hàng ngày vào sổ và nộp tiền về công ty vào sáng ngày hôm sau.
Từ tháng 6/2023 đến ngày 17/11/2023, bị cáo đã lợi dụng nhiệm vụ được giao, nhiều lần chiếm đoạt tiền từ việc bán gas và thu nợ, với tổng số tiền là 70.318.000 đồng. Trong đó, đủ cơ sở xác định cụ thể số tiền 04 lần, gồm: Lần 1: 5.000.000 đồng, lần 2: 5.730.000 đồng, lần 3: 6.360.000 đồng; lần 4: 4.480.000 đồng. Còn lại 48.748.000 đồng không đủ cơ sở xác định số tiền cụ thể từng lần. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo tương xứng để đảm bảo giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. HĐXX nhận thấy, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 11.704.400 đồng, khắc phục một phần hậu quả; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Cần lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án đối với:
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty cổ phần T7 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh của cửa hàng G.
- + 01 Giấy ủy quyền do ông Nguyễn Tiến Đ ủy quyền cho ông Hoàng Trung P tham gia giải quyết vụ án.
- + Điều lệ của Công ty cổ phần T7.
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty G2 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy ủy quyền của ông Hồ Đình Thanh B1 (sinh năm: 1981; trú: Tổ 14, KV5, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) làm giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty G2 ủy quyền cho ông Nguyễn Tiến Đ (bản photo).
- + 01 sổ nhật ký bán hàng tại cửa hàng G, từ ngày 03/11/2023 đến hết ngày 17/11/2023 do Trương Song C ghi nội dung bán hàng. (bản chính)
- + 01 biên bản sự việc do Công ty cổ phần T7 và Trương Song C ký nhận vào ngày 20/11/2023 (bản chính).
- + 01 Quyết định số 27/QĐ-TĐ ngày 01/06/2023 về việc tiếp nhận lao động của Công ty G2 đối với Trương Song C (bản chính).
- + 01 Điều lệ Công ty G2 (bản photo).
- + 01 ủy nhiệm chi (bản photo).
- + 01 bảng tính BHXH tháng 10/2023 (bản photo).
- + 01 thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (bản photo).
- + 26 hóa đơn giá trị gia tăng, gồm các số hóa đơn sau: 10287; 10135; 10140; 11049; 9818; 7346; 7430; 7567; 7786; 7909; 8337; 8434; 8507; 8510; 8636; 8680; 8759; 8855; 8869; 8978; 9003; 9190; 9191; 9237; 9305; 9430 (bản photo có đóng dấu công ty).
- + 01 bảng tổng hợp công nợ (bản chính);
- + 01 bảng xác nhận công nợ của quán B2 (bản chính).
- + 39 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn giữa C và anh P về việc C thừa nhận chiếm đoạt tiền của Công ty CP T7.
- + 04 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn qua ứng dụng Zalo giữa C và ông T4 về việc C nhờ ông T4 xác nhận nợ số tiền 15.130.000 đồng.
[6] Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 60.863.600 đồng, Yêu cầu của bị hại là có căn cứ, cần được chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Song C phạm tội “Tham ô tài sản”
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Song C 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.
Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/3/2024.
2. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Trương Song C bồi thường cho Công ty cổ phần T7 số tiền 60.863.600 đồng (Sáu mươi triệu tám trăm sáu mươi ba ngàn sáu trăm đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, xử lý vật chứng như sau:
Cần lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án đối với:
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty cổ phần T7 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh của cửa hàng G.
- + 01 Giấy ủy quyền do ông Nguyễn Tiến Đ ủy quyền cho ông Hoàng Trung P tham gia giải quyết vụ án.
- + Điều lệ của Công ty cổ phần T7.
- + 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và điều lệ của Công ty G2 (bản chứng thực).
- + 01 Giấy ủy quyền của ông Hồ Đình Thanh B1 (sinh năm: 1981; trú: Tổ 14, KV5, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) làm giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty G2 ủy quyền cho ông Nguyễn Tiến Đ (bản photo).
- + 01 sổ nhật ký bán hàng tại cửa hàng G, từ ngày 03/11/2023 đến hết ngày 17/11/2023 do Trương Song C ghi nội dung bán hàng. (bản chính)
- + 01 biên bản sự việc do Công ty cổ phần T7 và Trương Song C ký nhận vào ngày 20/11/2023 (bản chính).
- + 01 Quyết định số 27/QĐ-TĐ ngày 01/06/2023 về việc tiếp nhận lao động của Công ty G2 đối với Trương Song C (bản chính).
- + 01 Điều lệ Công ty G2 (bản photo).
- + 01 ủy nhiệm chi (bản photo).
- + 01 bảng tính BHXH tháng 10/2023 (bản photo).
- + 01 thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT, BHTN (bản photo).
- + 26 hóa đơn giá trị gia tăng, gồm các số hóa đơn sau: 10287; 10135; 10140; 11049; 9818; 7346; 7430; 7567; 7786; 7909; 8337; 8434; 8507; 8510; 8636; 8680; 8759; 8855; 8869; 8978; 9003; 9190; 9191; 9237; 9305; 9430 (bản photo có đóng dấu công ty).
- + 01 bảng tổng hợp công nợ (bản chính);
- + 01 bảng xác nhận công nợ của quán B2 (bản chính).
- + 39 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn giữa C và anh P về việc C thừa nhận chiếm đoạt tiền của Công ty CP T7.
- + 04 tờ giấy A4 thể hiện tin nhắn qua ứng dụng Zalo giữa C và ông T4 về việc C nhờ ông T4 xác nhận nợ số tiền 15.130.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Song C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm 3.043.180 đồng (Ba triệu không trăm bốn mươi ba ngàn một trăm tám mươi đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Trần Thanh Thủy |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự: tham ô tài sản
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trương Song C phạm tội “Tham ô tài sản”. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trương Song C 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.
