Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29-8-2024

"V/v Tranh chấp ly hôn, con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt, ông Nguyễn Tất Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2024/TLST-HNGD ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/ QĐXX -HNGD ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Y, sinh năm 1999 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Mè Văn T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 05/7/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Hoàng Thị Y bày:

Chị và anh Mè Văn T kết hôn ngày 11/8/2017 đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn anh chị đã được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn chị về nhà anh T làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến hay cãi nhau, anh T không chịu làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè, đi chơi về muộn khiến vợ chồng cãi nhau. Hiện chị đã bỏ về bố mẹ đẻ ở thôn P, xã K, huyện L ở và vợ chồng đã ly thân. Nay chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mè Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Mè Anh T1, sinh ngày 11/6/2016. Sau khi ly hôn chị Y có nguyện vọng được nuôi con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 25/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Mè Văn T trình bày:

Anh xác định thời điểm kết hôn và có mâu thuẫn như chị Y trình bày là đúng. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị Y đã tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ, vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Y xin ly hôn anh đồng ý ly hôn với chị Y.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung như chị Y trình bày là đúng, hiện con chung đang ở cùng chị Y. Vợ chồng ly hôn anh nhất trí để chị Y nuôi cháu Mè Anh T1, anh không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị Y không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Y và bị đơn anh Mè Văn T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; Điều 6; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Mè Văn T.
  • Về quan hệ con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Mè Anh T1, sinh ngày 11/6/2016. Anh Mè Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh Mè Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  • Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Chị Hoàng Thị Y2 chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Hoàng Thị Y khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Mè Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  2. Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K ngày 11/8/2017, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống chị Y cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do anh T không chịu làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè, đi chơi về muộn khiến vợ chồng cãi nhau và ly thân từ tháng 5/2024 đến nay; anh T cho rằng nguyên nhân chỉ do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung và có ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Mặc dù chị Y và anh T đưa ra các nguyên nhân khác nhau nhưng cả hai đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân. HĐXX thấy: Thực tế chị Y và anh T không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị Y và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Y, xử cho chị Hoàng Thị Y được ly hôn anh Mè Văn T.
  4. Về con chung: Chị Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Mè Anh T1, sinh ngày 11/6/2016. Cả chị Y và anh T đều có nguyện vọng để chị Y là người trực tiếp nuôi con chung và không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử thấy cần công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, giao cho chị Hoàng Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng Mè Anh T1, sinh ngày 11/6/2016, không đặt ra xem xét về cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn anh Mè Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  5. Về tài sản chung, công nợ chung: Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  6. Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; Điều 39 khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Y.

  1. Quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Y và anh Mè Văn T được ly hôn.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Mè Anh T1, sinh ngày 11/6/2016. Anh Mè Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, anh Mè Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Y đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006277 ngày 08/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Kiên Lao;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Y ly hôn anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger