Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/8/2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Võ Thị Ngọc Mai

2. Bà Nguyễn Ngọc Cơ Minh

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 308/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024; về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 270/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Mỹ H, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số A, đường A, tổ E, thôn A, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số A, đường A, tổ E, thôn A, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:

Chị Mai Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị H, anh Q sống hạnh phúc với nhau đến năm 2008 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q thường xuyên rượu chè, từ đó không chăm lo cho gia đình. Bản thân chị H đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn kéo dài khiến chị H không còn tình cảm yêu thương và không mong muốn tiếp tục chung sống với anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Chị H và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Tấn K, sinh ngày 04/6/2008 và Nguyễn Tấn K1, sinh ngày: 26/8/2011. Tại đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 chị H yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nuôn con. Ngày 5/8/2024 chị H có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc giải quyết quyền nuôi con, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về tài sản chung, nợ chung chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:

Anh Q thống nhất như lời trình bày của chị H về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Q thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do anh thường xuyên uống rượu, rồi về la mắng chị H. Đến ngày 29/6/2024 chị H dẫn 02 con chung ra ngoài thuê nhà để ở, anh chị cũng ly thân từ đó đến nay. Chị H khởi kiện ly hôn thì anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị H. Về con chung, tài sản chung, nợ chung anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Tấn Quốc có nơi thường trú tại huyện Đ nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

2

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đọan chuẩn bị xét xử mặc dù đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Mai Thị Mỹ H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Nguyễn Tấn Q. Tuy nhiên, ngày 5/8/2024 chị H có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp nuôi con nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung vụ án:

Chị Mai Thị Mỹ H và anh Nguyễn Tấn Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 2004, số 28, quyển số 01, tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn chị H và anh Q chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì này sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q thường xuyên uống rượu và mắng chửi chị H, mặc dù chị H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Chị H đã dắt các con thuê nhà ở riêng và ly thân với anh Q từ ngày 29/6/2024 cho đến nay. Hiện nay chị H xác định không còn tình cảm với anh Q, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Bản thân anh Q cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có nảy sinh mâu thuẫn nhưng mong muốn có thời gian để tác động chị H quay về chung sống, vì anh vẫn còn tình cảm với chị H. Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải đoàn tụ cho chị H và anh Q, tuy nhiên không thành, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 22/8/2024 chị H vẫn cương quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ, tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Q đã kéo dài, trầm trọng, có chung sống cũng không đạt được mục đích hôn nhân. Nên cần xử cho chị H được ly hôn với anh Q là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Về yêu cầu tranh chấp nuôi con: Do chị H rút yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con và anh Q cũng không tranh chấp về con chung. Nên cần đình chỉ yêu cầu giải quyết quyền nuôi con là phù hợp.

3

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết phân chia tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Cần buộc chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Mỹ H

  1. Về hôn nhân: Chị Mai Thị Mỹ H ly hôn anh Nguyễn Tấn Q.
  2. Đình chỉ yêu cầu “tranh chấp nuôi con” trong đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 của chị Mai Thị Mỹ H.
  3. Về án phí DSST: Chị Mai Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004697, ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

4

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - Thi hành án DS huyện Đức Linh;
  • - UBND xã Sùng Nhơn
  • - Các đương sự;.
  • - Lưu hồ sơ, quyết định./.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Thuận

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger