Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 114/2024/HSST

Ngày: 12 - 06 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Vân Anh- Giáo viên;
  2. Bà Khưu Thị Ngọc Bích – Giáo viên.

Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Lê Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 102/2024/HSST ngày 08 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 05 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Danh Thanh V; sinh năm 2005, tại: Hậu Giang; Nơi đăng ký NKTT: Ấp G, xã V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở hiện nay: 4 đường số I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Danh Kha, sinh năm 1980 và bà: Lê Thị L, sinh năm 1973; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  2. Lô Văn S; sinh ngày: 06/05/2006, tại: Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: Bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: 239/22/28 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn C và bà: Lô Thị G, sinh năm 1987; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  3. Moong Văn Y; sinh ngày: 29/04/2006, tại: Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: Bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Moong Văn M, sinh năm 1988 và bà: Lương Thị V1, sinh năm 1987; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  4. Moong Văn P; sinh năm 1997, tại: Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: Bản Chà Lắn, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: 6 đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 00/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Moong Văn K, sinh năm 1965 và bà: Moong Thị K1, sinh năm 1973; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  5. Moong Văn Q; sinh năm 2004, tại: Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: Thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Moong Văn C1, sinh năm 1989 và bà: Moong Thị H, sinh năm 1990; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  6. Moong Văn U; sinh ngày: 03/05/2006, tại: Nghệ An; Nơi đăng ký NKTT: Bản Chà Lắn, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: 6 đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khơ Mú; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Moong Văn H1, sinh năm 1975 và bà: Moong Thị H2, sinh năm 1976; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  7. Nguyễn Hào Q1; sinh năm 1996, tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký NKTT: Thôn C, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: 4 đường số I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình C2, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  8. Nguyễn Kim T; sinh năm 1995, tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký NKTT: Thôn C, xã G, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình C2, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  9. Trần Phước V2; sinh năm 1997, tại: Đồng Tháp; Nơi đăng ký NKTT: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: C đường G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Cống N1, sinh năm 1974 và bà: Võ Thị M1, sinh năm; không rõ; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  10. Phan Đỗ P1; sinh năm 1999, tại: Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký NKTT: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: 4 đường số I, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan H3, sinh năm 1956 và bà: Đỗ Thị V3, sinh năm 1958; vợ, con: chưa.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.
  11. Tạ Xuân M2; sinh năm 1990, tại: Sơn La; Nơi đăng ký NKTT: Bản Mạc, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; chỗ ở hiện nay: 3 đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: May; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Xuân P2, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; vợ: Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1995; con: 01 người sinh năm 2017.
    • - Tiền án, tiền sự: không.
    • Bị bắt tạm giam: ngày 25/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Phước V2, Tạ Xuân M2: Luật sư Nguyễn Anh T1 – Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư T9 (Có mặt).

Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn U: Luật sư Huỳnh Thị Phương N2 – Trung tâm T10 (Có mặt).

  • Người giám hộ cho bị cáo Moong Văn U: ông Moong Văn H1, sinh năm 1975; trú tại: Bản C, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (cha ruột bị cáo). (Vắng mặt).
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Lô Văn S: Luật sư Nguyễn Thị H4 – Trung tâm T10 (Có mặt).
  • Người giám hộ cho bị cáo Lô Văn S: bà Lô Thị G, sinh năm 1987; trú tại: Bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (mẹ ruột bị cáo). (Vắng mặt).
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn Q: Luật sư Dương Thị Hồng T2 – Trung tâm T10 (Có mặt).
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn P: Luật sư Trần Văn Đ – Trung tâm T10 (Có mặt).
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo Mong Văn Y1: Luật sư Trần Thị Hồng V4 – Trung tâm T10 (Có mặt).
  • Người giám hộ cho bị cáo Moong Văn Y: ông Moong Văn M, sinh năm 1988; trú tại: Bản H, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An (cha ruột bị cáo). (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1987; trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).
  2. Bà Bùi Thị Trúc M3, sinh năm 2000; trú tại: 4 Đường Số I, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 2003; trú tại: 3 L, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
  4. Anh Nay L2, sinh năm 2007; trú tại: 4 đường số I, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  5. Anh Trương Đình D1, sinh năm 1991; trú tại: thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 19/11/2023, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Danh Thanh V, Trần Phước V2, Lê Thị T5, Trương Thị Thu H5 cùng 03 nữ thanh niên (chưa rõ lai lịch) nhậu xong tại quán 81 kênh N, phường B, quận B thì cả nhóm cùng nhau đi hát karaoke, riêng V2 đi về nhà. Sau đó, Q1 chở 03 nữ thanh niên (chưa rõ lai lịch) đến quán karaoke trước, còn T, V, T5 và H5 đi bộ đến quán karaoke. Khi nhóm của V đang đi bộ trên đường T thì Moong Văn Q (C3) điều khiển xe mô tô biển số 37C1-094.27 chạy ngang qua và nẹt pô xe. Lúc này, Q nghe có tiếng người hú, nghĩ T, V kiếm chuyện với mình, nên Q chạy xe đến quán nhậu số D L, phường T, quận T gặp Moong Văn P, Moong Văn Y, Moong Văn U, Lô Văn S, Nguyễn Thị Mỹ L3, Cụt Thị T6 và Cụt Thị U1 kể lại vụ việc trên và rủ P, S, U và Y đến gặp T và V để hỏi chuyện. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển số 37C1-094.27 chở P, Y (không đội nón bảo hiểm) đến chặn đường nhóm của V tại trước số C T, phường T, quận T còn Văn U, S, T6, U1, L3 cũng đi bộ từ đường L đến địa chỉ trên.

Lúc này, cả hai nhóm đứng tại khu vực trước số 359 T, thì Q hỏi T về việc ai là người vừa mới hú thì T trả lời: “Không có hú gì hết” rồi T xin được

bắt tay giảng hòa. Cùng lúc này, Q1 điều khiển xe mô tô biển số 86B7-395.97 đến, Y không đồng ý giảng hòa mà nói “Tụi mày thích sao?” thì T trả lời “Vậy tụi mày có muốn bị chôn sống ở đây không?”. Khi T vừa dứt lời, V lấy 01 nón bảo hiểm trên xe của Q đánh 01 cái trúng vào đầu Y nên P, Y, Q, Văn U và S lao vào đánh nhau với V, Q1 và T tại giữa đường T, cụ thể: Sáng dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu V, Q dùng tay không đánh V, rồi cả hai rượt đuổi Vủ chạy trên đường T hướng về đường B; U dùng tay không đánh Q1, rượt đuổi Q1 chạy vào lề đường Tân H6; Y và P dùng tay không đánh T ngay giữa đường T. Riêng, Lê Thị T5, H5, L3, Cụt Thị T6 và U1 vào can ngăn nên Văn U, Y, S và P bỏ đi về hướng đường L, Q về nhà trọ ngủ. Sau đó, P, Y, Văn U, S cùng Lê Thị T5, H5, L3 đến khách sạn Q2, số B G, phường T, quận T.

Do bực tức việc bị nhóm của Q đánh, V gọi điện thoại rủ Phan Đỗ P1, P1 rủ thêm Nay Lương; Q1 gọi điện thoại rủ Trần Phước V2 và Tạ Xuân M2 đến tìm đánh nhóm của Q và hẹn gặp tại số C T, phường T, quận T.

Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày, nhóm của Quy tập t tại địa chỉ trên rồi đi tìm nhóm của Q, cụ thể: Việt điều khiển xe mô tô biển số 86B7-395.97 chở Q1, T điều khiển xe mô tô biển số 92E1-608.99 chở V, P1 điều khiển xe mô tô biển số 86B8-540.72 chở L2, M2 điều khiển xe mô tô biển số 86B7-533.11 chở T5 và H5. Trên đường đi, V nhặt 01 cây gỗ dài khoảng 01 mét (không rõ địa chỉ) để đánh nhau.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của Văn U đến khách sạn Q2 số 226 G, phường T, quận T, P và Y đi vào đặt phòng, còn L3, T5, U1, Văn U và S đứng ở trước khách sạn. Lúc này, Q1 phát hiện nhóm của Văn U nên hô to “Tụi nó kìa!”. Ngay lập tức, V2, Q1, M2 dừng xe lại và dựng dưới lề đường trước khách sạn trên, Văn U và S liền bỏ chạy vào trong khách sạn, V2, M2 truy đuổi theo; V2 cầm 01 nón bảo hiểm đánh Văn U nhưng U né được, M2 dùng chân đạp vào người S nhưng không trúng rồi Sáng hỗ trợ P, Y, Văn U đánh V2 và M2. Riêng, Q1 đứng tại ngã ba đường L - G la lên “Tụi nó nè!” để thông báo cho P1, L2, T và V đang chạy xe trên đường L biết, nên P1 và L2 chạy đến dựng xe dưới lề đường trước khách sạn, T và V chạy đến dựng xe dưới lề đường ngay ngã ba Lê Sát – G. Sau đó, L2 chạy vào khách sạn dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu P, Q1 dùng tay không đấm vào mặt và người P, V cầm cây gỗ đánh Phăn rồi tiếp tục đánh Y, S, còn P1 chạy đến số B G, phường T, quận T nhặt 01 viên gạch ông chạy vào khách sạn nhưng không đánh ai. Lúc này, nhóm của Văn U chạy lên cầu thang của khách sạn trốn, còn Văn U chạy ra đường G.

Sau đó, Văn U bị T truy đuổi đến số A G, phường T, quận T rồi cả hai đánh nhau bằng tay không dưới lề đường; V, Q1, V2, P1, L2 và M2 bị chủ khách sạn Quang H7 đuổi ra ngoài nên chạy đến cùng đánh Văn U với T; V dùng cây gỗ đánh vào người Văn U rồi L2 giật cây gỗ trên tay V đánh vào người Văn U, V2 và Q1 dùng chân, tay đá, đâm vào người Văn U, T dùng tay đánh vào mặt Văn U, P1 dùng tay đánh vào mặt làm Văn U nằm bất tỉnh dưới lề đường, M2 không tham gia đánh nhau. Sau đó, cả nhóm của V bỏ đi, riêng

Văn U được 01 nữ thanh niên đưa đi cấp cứu. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, Công an phường T mời các đối tượng liên quan về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Danh Thanh V, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2, Nay L2 và Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U đã khai nhận toàn bộ hành vi gây rối trật tự công cộng của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Công văn số 3027/UBND ngày 22/11/2023 của Ủy ban nhân dân phường T xác định vụ việc trên là gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

* Vật chứng thu giữ.

Thu giữ của Danh Thanh V sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 điện thoại di động hiệu Redmel 10, màu xanh đen, Imei 866534054859864/01;
  • 01 quần jeans dài, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 nón bảo hiểm, màu đen;
  • 03 đoạn gỗ đã bị gãy dài khoảng 50cm.

Thu giữ của Lô Văn S sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen.

Thu giữ của Moong Văn Y sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 quần jean dài, màu trắng và 01 đôi giày màu trắng;

Thu giữ của Moong Văn P sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo thun ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans dài, màu đen và 01 đôi giày, màu đen trắng.

Thu giữ của Moong Văn U sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 quần tây dài, màu đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, màu đen và 01 đôi dép nhựa.

Thu giữ của Nguyễn Hào Q1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần lửng màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu xanh;
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng (không mở được nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy);
  • 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 86B7- 395.97, số khung: RLCUG1010KY164035, số máy: G3D4E-931267.

Thu giữ của Nguyễn Kim T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen.

Thu giữ của Trần Phước V2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu trắng; 01 túi đeo chéo, màu đen;
  • 01 xe máy biển số 92E1-608.99 hiệu Yamaha Sirius, màu đen, số khung: RLCUE3720MY080165, số máy: E32VE431226.

Thu giữ của Phan Đỗ P1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 quần thun ngắn, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng kem và 01 đôi dép kẹp, màu trắng;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu trắng bị bể màn hình, Imei: 355691079456478;
  • 01 xe máy hiệu Honda Vario, biển số 86B8-540.72, màu đỏ đen, số khung: MH1KF4116KK842865, số máy: KF41E1845346.

Thu giữ của Tạ Xuân M2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo khoác, màu đen; 01 quần ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen;
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO, Imei: 869559054499913;
  • 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 86B7-533.11, màu đỏ đen, số khung: RLCUG1010NY360980, số máy: G3D4E1132018.

Thu giữ của Nay L2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

  • 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jeans, màu xanh và 01 đôi dép, màu đen.

Thu giữ của Moong Văn Q sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội:

  • 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 37C1-094.27, số khung: RLCUG0610GY226627, số máy: G3D4E-239535.

Tại bản Cáo trạng số 119/CT-VKSQ.TP ngày 07 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Moong Văn Q;

  • - Xử phạt: bị cáo Moong Văn Q từ 03 năm đến 04 năm tù.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Danh Thanh V, Moong Văn P, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2;

  • - Xử phạt: bị cáo Danh Thanh V từ 03 năm đến 04 năm tù.
  • - Xử phạt: các bị cáo Moong Văn P, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, 50, 58; Điều 90,91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn U;

  • - Xử phạt: bị cáo Lô Văn S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt bị cáo Moong Văn Y từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Xử phạt: bị cáo Moong Văn U từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Phước V2, Tạ Xuân M2 trình bày: thống nhất về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo V2, M2. Các bị cáo tham gia vai trò thứ yếu. Vụ án không gây thiệt hại về người và tài sản. Các bị cáo thành khẩn khai báo, có nhân thân tốt. Các bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát truy tố.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn U trình bày: thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Vai trò tham gia của bị cáo trong vụ án chỉ là thứ yếu. Bị cáo phạm tội chỉ quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự vì không sử dụng hung khí. Bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội do lạc hậu, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội là người chưa thành niên phạm tội, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lô Văn S trình bày: thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lô Văn S theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là không hợp lý. Bị cáo S là người bị rủ rê, lôi kéo. Bị cáo phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Bị cáo có trình độ học vấn thấp, phạm tội do lạc hậu, bị cáo thành khẩn khai báo. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn Q trình bày: thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Viện kiểm sát áp dụng khoản 2 Điều 318 Bộ

luật hình sự truy tố bị cáo là không hợp lý vì bị cáo sử dụng nón bảo hiểm nên không phải sử dụng hung khí khi phạm tội. Bị cáo chỉ tham gia gây rối ở địa điểm 359 T. Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội do không kiềm chế được cảm xúc. Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội do lạc hậu.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn P trình bày: thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo chỉ phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là dân tộc thiểu số nên phạm tội do lạc hậu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát truy tố.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Moong Văn Y trình bày: thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo chỉ phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là dân tộc thiểu số nên phạm tội do lạc hậu. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

- Các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của người làm chứng, C4 thu thập được, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có căn cứ để xác định: Từ khoảng 23 giờ đến 23 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, do có mâu thuẫn, Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim

T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 đã có hành vi cùng nhau dùng hung khí là mũ bảo hiểm, gậy gỗ gây rối trật tự công cộng tại khu vực đường trước số C T, khu vực trước và trong khách sạn Q2 số 226 G và khu vực dưới lề đường trước số A G, phường T, quận T gây ảnh ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn phường T, quận T, thì bị phát hiện. Trong vụ án này, cả hai nhóm khi thực hiện hành vi phạm tội đều sử dụng nón bảo hiểm và gậy gỗ để tham gia đánh nhau, gây rối.

Vì vậy, Cáo trạng số 119/CT-VKSQ.TP ngày 07 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, Sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

  1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của người dân trên địa bàn phường T, quận T, TP ., mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  2. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn vì giữa các bị cáo không có sự phân công và câu kết chặt chẽ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án, cụ thể như sau:
    1. Đối với bị cáo Moong Văn Q: xuất phát từ việc bị cáo chạy xe nẹt bô trên đường T, quận T thì nghe tiếng người hú, nghĩ Nguyễn Kim T, Danh Thanh V kiếm chuyện với mình, nên bị cáo đã rủ rê, lôi kéo các đối tượng Moong Văn P, Moong Văn Y, Moong Văn U, Lô Văn S đi tìm gặp nhóm của V để đánh nhau. Khi hai nhóm gặp nhau tại C T thì hai bên lao vào đánh nhau gây náo loạn cả khu vực.
    2. Đối với bị cáo Danh Thanh V: sau khi bị nhóm của Q rượt đuổi đánh thì V đã trực tiếp rủ rê, lôi kéo đồng bọn gồm: Phan Đỗ P1, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Tạ Xuân M2 tìm nhóm của Q đánh trả thù. V mang theo 01 cây gỗ dài khỏang 01 mét. Khi phát hiện nhóm của Q tại khách sạn Q2, số B G, phường T thì cả nhóm lao vào khách sạn rượt đuổi nhóm của Q để đánh. V dùng cây gỗ đuổi đánh Moong Văn P và Moong Văn U.
    3. Đối với các bị cáo Moong Văn P, Moong Văn Y, Moong Văn U, Lô Văn S: khi được Q rủ đi đánh nhau, các bị cáo đã đồng ý ngay và khi đến 359 Tân Hương các bị cáo lao vào dùng tay, nón bảo hiểm rượt đuổi đánh nhóm của V, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
    4. Đối với các bị cáo Phan Đỗ P1, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Tạ Xuân M2: khi được V rủ đi tìm nhóm của Q đánh trả thù, các bị cáo đồng ý và tham gia tích cực. Khi phát hiện nhóm của Q thì các bị cáo cùng V nhào vô rượt đuổi đánh nhóm của Q làm náo loạn cả khu vực.
  3. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Moong Văn Q bị áp dụng tình tiết tăng nặng là xúi giục các bị cáo Moong Văn Y, Lô Văn S, Moong Văn U là người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U là người dân tộc thiểu số phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Moong Văn Y, Lô Văn S, Moong Văn U tính đến thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, nên hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
  5. - Đối với Nay Lương (sinh ngày 05/12/2007) có hành vi tham gia cùng gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội, Nay L2 chỉ 15 tuổi 11 tháng 14 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra đã đề nghị Công an phường T xử phạt hành chính đối với Nay L2.

    Đối với Moong Văn P, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T và Tạ Xuân M2 bị thương tích nhẹ nên có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi Cố ý gây thương tích là có cơ sở.

  6. Về xử lý vật chứng:

    Thu giữ của Danh Thanh V sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmel 10, màu xanh đen, Imei 866534054859864/01. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Đối với 01 quần jeans dài, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 nón bảo hiểm, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 03 đoạn gỗ đã bị gãy dài khoảng 50cm. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Lô Văn S sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cân tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Moong Văn Y sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 quần jean dài, màu trắng và 01 đôi giày màu trắng. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Moong Văn P sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo thun ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans dài, màu đen và 01 đôi giày, màu đen trắng. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Moong Văn U sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 quần tây dài, màu đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, màu đen và 01 đôi dép nhựa. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Nguyễn Hào Q1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần lửng màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu xanh. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng (không mở được nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy). Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 86B7- 395.97, số khung: RLCUG1010KY164035, số máy: G3D4E-931267. Qua xác minh, xe máy trên do Nguyễn Hào Q1 đứng tên chủ sở hữu (BL 633). Qua làm việc, Q1 khai nhận ngày 19/11/2023, Q1 giao xe xe máy trên cho V2 điều khiển chở Q1 đi tìm nhóm của U để đánh nhau. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

    Thu giữ của Nguyễn Kim T sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Trần Phước V2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu trắng; 01 túi đeo chéo, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 xe máy biển số 92E1-608.99 hiệu Yamaha Sirius, màu đen, số khung: RLCUE3720MY080165, số máy: E32VE431226. Qua xác minh, xe máy trên do bà Nguyễn Thị T3, ngụ thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đứng tên chủ sở hữu (BL 632). Qua làm việc, bà T3 trình bày mua xe máy trên vào năm 2021 với giá 23.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu; vào ngày 19/11/2023, Trần Phước V2 là công nhân làm thuê cho bà T3 tự ý lấy xe, bà T3 không biết V2 sử dụng vào việc gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy cho bà T3 là phù hợp.

    Thu giữ của Phan Đỗ P1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 quần thun ngắn, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng kem và 01 đôi dép kẹp, màu trắng. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu trắng bị bể màn hình, Imei: 355691079456478. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Đối với 01 xe máy hiệu Honda Vario, biển số 86B8-540.72, màu đỏ đen, số khung: MH1KF4116KK842865, số máy: KF41E1845346. Qua xác minh, xe máy trên do chị Bùi Thị Trúc M3 (vợ của Phan Đỗ P1), ngụ tổ G, thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đứng tên chủ sở hữu (BL 630). Qua làm việc, chị Bùi Thị Trúc M3 trình bày mua xe máy trên vào năm 2020 với giá 55.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu; vào tối ngày 19/11/2023, Phan Đỗ Phú mượn xe máy trên để đi công chuyện, chị M3 không biết P1 tham gia vụ việc gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho chị M3 là phù hợp.

    Thu giữ của Tạ Xuân M2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo khoác, màu đen; 01 quần ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, Imei: 869559054499913. Xét đây là phương tiện phạm tội, nên cân tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    • Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 86B7-533.11, màu đỏ đen, số khung: RLCUG1010NY360980, số máy: G3D4E1132018. Qua xác minh, xe máy trên do anh Nguyễn Văn T4, ngụ xóm C, thôn E, xã N, huyện T, tỉnh Bình Thuận đứng tên chủ sở hữu (BL 631). Qua làm việc, ông T4 trình bày mua xe máy trên vào năm 2022 với giá 51.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu; vào ngày 19/11/2023, Tạ Xuân M2 mượn xe mô tô biển số 86B7- 533.11 để đi làm, anh T4 không biết M2 tham gia vụ việc gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho anh T4 là phù hợp.

    Thu giữ của Nay L2 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.

    • Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jeans, màu xanh và 01 đôi dép, màu đen. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

    Thu giữ của Moong Văn Q sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội:

    • Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 37C1-094.27, số khung: RLCUG0610GY226627, số máy: G3D4E-239535. Qua xác minh, xe máy trên do ông Trương Đình D1, ngụ thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An đứng tên chủ sở hữu (BL 629). Qua làm việc, ông D1 trình bày mua xe máy trên vào năm 2018 và đứng tên chủ sở hữu; Đến tháng 11/2020, đã bán lại cho tiệm xe Long An, địa chỉ: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An với giá 22.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán (BL 262). Moong Văn P khai nhận đã mua xe máy trên tại tiệm xe Long An, P là người đang thực tế sở hữu xe máy trên và vào ngày 19/11/2023, P giao xe cho Q điều khiển chở P và Y đi đánh nhau với nhóm của V. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân

Phú đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì sung vào ngân sách Nhà nước.

  1. Án phí: Các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2 đều phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng".
  2. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Moong Văn Q;
    1. Xử phạt: bị cáo Moong Văn Q 03 (Ba) năm tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

  3. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Danh Thanh V, Moong Văn P.
    1. Xử phạt: bị cáo Danh Thanh V 03 (Ba) năm tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    2. Xử phạt: bị cáo Moong Văn P 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

  4. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2;
    1. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hào Q1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    2. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Kim T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    3. Xử phạt: bị cáo Trần Phước V2 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    4. Xử phạt: bị cáo Phan Đỗ Phú 0 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    5. Xử phạt: bị cáo Tạ Xuân M2 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

  5. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58; Điều 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn U;
    1. Xử phạt: bị cáo Lô Văn S 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    2. Xử phạt: bị cáo Moong Văn Y 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

    3. Xử phạt: bị cáo Moong Văn U 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/11/2023.

  6. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 quần jeans dài, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 nón bảo hiểm, màu đen; 03 đoạn gỗ đã bị gãy dài khoảng 50cm; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen; 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng; 01 quần jean dài, màu trắng và 01 đôi giày màu trắng; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans dài, màu đen và 01 đôi giày, màu đen trắng; 01 quần tây dài, màu đen; 01 áo sơ mi ngắn tay, màu đen và 01 đôi dép nhựa ; 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần lửng màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu xanh; 01 áo ngắn tay, màu trắng; 01 quần jeans ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần lửng, màu đen và 01 đôi dép kẹp, màu trắng; 01 túi đeo chéo, màu đen; 01 quần thun ngắn, màu đen; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng kem và 01 đôi dép kẹp, màu trắng; 01 áo khoác, màu đen; 01 quần ngắn, màu đen và 01 đôi dép nhựa, màu đen; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần jeans, màu xanh và 01 đôi dép, màu đen.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmel 10, màu xanh đen, I 866534054859864/01; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng (không mở được nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong máy); 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 86B7- 395.97, số khung: RLCUG1010KY164035, số máy: G3D4E-931267; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu trắng bị bể màn hình, Imei: 355691079456478; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, Imei: 869559054499913.
    • - Giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, TP. đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện giao thông đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 37C1-094.27, số khung: RLCUG0610GY226627, số máy: G3D4E-239535.

    Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 54 /LNK ngày 01/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.

  7. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    - Buộc các bị cáo Danh Thanh V, Lô Văn S, Moong Văn Y, Moong Văn P, Moong Văn Q, Moong Văn U, Nguyễn Hào Q1, Nguyễn Kim T, Trần Phước V2, Phan Đỗ P1, Tạ Xuân M2. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo là người chưa thành niên có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người giám hộ cho các bị cáo là người chưa thành niên, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

 

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QL&NV liên quan;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HSST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 114/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger