Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

Bản án số:114/2024/HS - ST

Ngày 20/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Minh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hồng
  • 2. Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Xiêm – Kiểm sát viên.

Ngày 20/06/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 26/04/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đỗ Minh C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1994, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Đỗ Văn N, sinh năm 1971; Họ và tên mẹ: Ngô Thị L, sinh năm 1972; Vợ: Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 2003; Có 01 con riêng sinh năm 2017; Theo danh bản, chỉ bản số 897 lập ngày 12/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo Đỗ Minh C có nhân thân như sau:

- Bản án Hình sự phúc thẩm số 773/2018/HSPT ngày 27/11/2018 Tòa án nhân Cấp cao tại Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/12/2019 (Đã được xóa án tích).

- Ngày 10/11/2015, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác” (Đã nộp phạt).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/01/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Quang H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm C, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Lan H1, sinh năm 1973; Vợ: Hoàng Thị Kim M, sinh năm: 2001; Có 01 người con sinh năm 2020; Theo danh bản, chỉ bản số 148 lập ngày 23/02/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo có nhân thân như sau:

Ngày 25/5/2020, bị Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền, số tiền 4.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích và hủy hoại tài sản” (Đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2024 đến ngày 24/04/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Nguyễn Mạnh C1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2002, tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện S, Tp Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn N1, sinh năm 1980; Họ và tên mẹ: Bùi Thị Y, sinh năm 1984;

Theo danh bản, chỉ bản số 898 lập ngày 02/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/01/2024 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

4. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C1: Ông Vũ Văn D – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T5, thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

5. Người bị hại: Anh Đặng Văn T1, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 16 giờ ngày 23/12/2023, Công an huyện S nhận được tin báo của anh Đặng Văn T1 về việc ngày 23/12/2023 tại thôn P, xã P, huyện S anh T1 bị một nhóm thanh niên bắt người trái pháp luật ép anh T1 lên xe ô tô taxi và đưa đến quán K tại thôn L, xã B, huyện S do Đỗ Minh C làm chủ.

Quá trình điều tra làm rõ: Do anh T1 không liên lạc được với chị Phạm Thị Minh T2 (người yêu của anh T1) nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, anh T1 rủ anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 2006; trú tại thôn T, xã T, huyện S) và anh Nguyễn Văn Đ (sinh năm 2005; trú tại thôn X, xã T, huyện S) đến nhà chị T2 ở gần Trung tâm y tế huyện S để tìm chị T2. Khi đến Trung tâm y tế huyện S thì thấy C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, màu đỏ BKS 30H - 53390 chở chị Nguyễn Thị Vân A (vợ C) và chị T2 về. Giữa anh T1 và C xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau nên C dùng chân tay đánh anh T1, được mọi người can ngăn nên anh T1 bỏ chạy. C đuổi theo anh T1 đến đầu đường Q, C tiếp tục dùng chân tay đánh anh T1. Do được chị Vân A, chị T2 và mọi người can ngăn nên C điều khiển xe ô tô BKS 30H - 53390 chở chị Vân A đi về nhà. Còn anh Đ chở T1 và Q đến quán Internet của anh Nguyễn Mạnh V (sinh năm 1992, ở thôn P, xã P, huyện S) để chơi game.

Trên đường về, C sử dụng số điện thoại 0967.453.xxx gọi điện thoại cho Nguyễn Quang H (là quản lý quán hát karaoke Z 86) nói H “xuống quán Internet ở Phù Mã bắt T1 đưa về quán hát karaoke Z 86 để nói chuyện”, H đồng ý. Sau đó, H nói cho Nguyễn Mạnh C1 (là nhân viên quán K) biết về việc “C và T1 có xích mích với nhau, xuống bắt T1 và đưa T1 về quán K 86 để C nói chuyện”, C1 đồng ý. Trong lúc H và C1 nói chuyện, Nguyễn Văn S (sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã N, huyện S - là nhân viên của quán K) cũng có mặt ở đó, S biết việc H và C1 đi bắt T1, S nói “S biết mặt anh T1” và xin đi cùng với H. Sau đó, C1 chở S và H đến nhà nghỉ Q1 tại thôn P, xã T, huyện S để cất xe và bắt xe taxi. Tại đây, tất cả gặp Nguyễn Gia P (sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã V, huyện S), H nói cho P biết về việc “C và anh T1 có mâu thuẫn với nhau nên đi bắt T1 đưa về quán K 86 để nói chuyện với C”. P nói "biết mặt T1" nên xin đi cùng. H, C1, S và P bắt xe taxi đi đến quán I ở thôn P, xã P, huyện S để tìm bắt anh T1.

Khi đến quán Internet C1 đi vào trước nhưng do C1 không biết mặt anh T1 nên khi anh T1 đang đứng ở trước cửa quán Internet C1 đã đi qua anh T1, còn H, S và P đi vào sau. Lúc này, anh T1 thấy H, S và P đi vào, anh T1 bỏ chạy vào phía bên trong quán Internet vượt qua C1. Thấy vậy, H và C1 đuổi theo anh T1, H túm cổ áo kéo anh T1 ra ngoài và nói “mày có phải T1 không đi ra ngoài nói chuyện”. C1 kéo anh T1 ra ngoài, anh T1 chống cự và ôm tay vào chân cầu thang thì H dùng tay tát anh T1 02 cái vào mặt, còn C1 kéo anh T1 đi nhưng anh T1 vẫn ôm vào chân cầu thang. P đi vào trong quán thấy có người chơi trong quán Internet định vào can ngăn, P nói “thằng nào can đánh chết”. S đi đến chỗ T1 và nói “mày cháu T3 đúng không, đi lên nói chuyện anh xin cho mày”. Khi này anh T1 tay vẫn bám vào chân cầu thang. Thấy vậy, anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1994, trú tại thôn L, B, huyện S, Tp Hà Nội đang chơi ở trong quán Internet có hỏi P “xem có việc gì mà lại đánh T1”, P nói “T1 có mâu thuẫn với C nên muốn bắt T1 đưa đến gặp C để nói chuyện”. Anh B thấy anh T1 là người quen của mình nên anh B nói với anh T1 “thôi cứ lên với bọn nó đi, anh nói với bọn nó rồi”. Thấy anh B nói như vậy, đồng thời sợ tiếp tục bị nhóm của H đánh nên anh T1 phải bỏ tay ôm cầu thang ra và buộc phải lên xe taxi đi về quán K. Thấy anh T1 bị nhóm của H bắt đưa lên gặp C, anh B biết T1 là em của anh Phạm Đình T4 (sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã T, huyện S) nên đã gọi điện cho anh T4 để T4 xin C không đánh T1. Sau đó, anh T4 gọi điện cho C nói “C đừng đánh T1”, C nói “thằng này phải đánh”.

Khi đưa anh T1 về, H gọi điện thoại cho C và thông báo cho C về việc đã bắt được T1 và đang đưa T1 về quán hát karaoke Z 86, C đến quán K 86 chờ. Một lúc sau, H, S và P đưa anh T1 đến quán K. Tại đây, C đã chửi bới T1 khoảng 20 phút, T1 đã phải xin lỗi C. Sau đó, C bảo P, S đưa T1 ra Phố Nỷ, xã T, huyện S để anh T1 tự về. Sau khi được C cho về anh T1 đến quán internet của anh V xin đoạn video tại quán liên quan đến việc bị các đối tượng bắt giữ rồi đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Mạnh C1 đã bồi thường cho anh Đặng Văn T1 30 triệu đồng; nay không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S và Nguyễn Gia P bỏ trốn nên Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã ra Quyết định truy nã đối với 02 bị can. Đến ngày 12/4/2024, vẫn chưa bắt được S và P nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, tách hành vi Bắt người trái pháp luật của Nguyễn Văn S và Nguyễn Gia P để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.

Đối với việc C dùng chân tay đánh gây thương tích cho anh T1, quá trình điều tra anh T1 đã từ chối giám định, không yêu cầu đề nghị gì nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với C. Ngày 09/4/2024, Công an huyện S ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Công bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.

Anh Nguyễn Văn Q khai khi anh Q vào can ngăn C đánh anh T1 thì anh bị C dùng tay đánh 01 cái vào đầu. Tuy nhiên, C không thừa nhận việc đã đánh anh Q, ngoài lời khai của anh Q thì không có tài liệu nào khác chứng minh C đánh anh Q. Đồng thời, anh Q có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu đề nghị gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với C.

Đối với Nguyễn Thị Vân A quá trình điều tra xác định không có hành vi xúi giục, kích động, giúp sức các đối tượng đi bắt anh T1 nên không có vai trò đồng phạm, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S không đề cập xử lý trong vụ án này.

Anh Nguyễn Văn B có bảo anh T1 đi theo nhóm H, tuy nhiên nhằm mục đích để anh T1 không bị nhóm của H tiếp tục đánh. Do vậy, Cơ quan CSĐT - Công an huyện S không đề cập xử lý đối với B với vai trò đồng phạm.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 25/04/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H và Nguyễn Mạnh C1 về tội “Bắt người trái pháp luật” theo Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

1. Người nào bắt....người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Tại phiên toà:

Các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H và Nguyễn Mạnh C1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Ông Vũ Văn D - người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh C1 trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt cho bị cáo C1 với mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo.Về án phí Hình sự sơ thẩm đề nghị miễn do gia đình bị cáo C1 là hộ nghèo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên; đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Minh C từ 9 đến 12 tháng tù tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 9 đến 12 tháng tù tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C1 từ 6 đến 9 tháng tù tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Cacc bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/12/2023 tại thôn P, xã P, huyện S, Hà Nội, Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Mạnh C1 đã có hành vi bắt người trái pháp luật đối với anh Đặng Văn T1 đưa về quán Karaoke “Zone 86” (ở thôn L, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội) để giải quyết mâu thuẫn cá nhân.

Hành vi của các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Mạnh C1 đã cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại 30 triệu đồng; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo C và bị cáo H đều có ông nội là người có công, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tự do của con người được pháp luật bảo vệ.

Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, có đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đỗ Minh C là người khởi xướng, chỉ đạo các bị cáo khác đi bắt người nên phải chịu mức án cao hơn hai bị cáo còn lại; bị cáo Nguyễn Quang H và bị cáo Nguyễn Mạnh C1 là đồng phạm giúp sức, tuy nhiên bị cáo H phải chịu mức án cáo hơn bị cáo C1 do là người trực tiếp thực hiện sự chỉ đạo đi bắt người của bị cáo C.

Các bị cáo đều được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Quang H và bị cáo Nguyễn Mạnh C1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy các bị cáo phạm tội có mức độ, có đủ điều kiện được cải tạo ngoài xã hội theo quy định của pháp luật nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo - giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.

[5] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Minh C, và bị cáo Nguyễn Quang H, mỗi bị cáo phải phải nộp 200.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước; đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C1 là đối tượng hộ nghèo nên được miễn án phí.

[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H, Nguyễn Mạnh C1 phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
    1. Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao,

      Xử phạt bị cáo Đỗ Minh C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.

    2. Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao,

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

    3. Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao,

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

  2. Giao bị cáo Đỗ Minh C và bị cáo Nguyễn Mạnh C1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện S, thành phố Hà Nội; Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên: Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Quang H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Minh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS - ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (bắt người trái pháp luật)

  • Số bản án: 114/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Bắt người trái pháp luật)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Minh Công và đồng phạm phạm tội Bắt, giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger