|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HSST
Ngày: 20-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vương Thị Minh Tân
- Ông Nguyễn Văn Quỹ.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức D, sinh năm 1982; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số 67/96 đường Nguyễn Thị T, tổ 50, khu phố 3, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 6/12; con ông: Nguyễn Đức L, sinh năm 1952 và bà: Vũ Tuyết T, sinh năm 1958; gia đình có 04 chị em em bị cáo là con thứ ba; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18-8-1999 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Đức D 9 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, ngày 15-01-2015, Tòa án nhân dân Quận, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng; bị cáo bị bắt giữ từ ngày 20-01-2024 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn Th (Vắng mặt).
- Ông Vũ Văn S (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 20-01-2024, tổ công tác Công an phường Thống Nhất, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 124 đường Tr, phường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Nguyễn Đức D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2-821.69 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên trái của D đang mặc 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (D khai là Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức D. Ngoài ra, tạm giữ của D 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu vàng đen, biển kiểm soát 18B2-821.69, đã cũ.
Bản kết luận giám định số 369/KL-KTHS ngày 25-01-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,159 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức D khai nhận: Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 20-01-2024, D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B2-821.69 từ nhà chị gái ở 231 đường Đ, phường C, thành phố N đến khu vực ngã tư Q - Tr, thành phố N gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. D cất gói ma túy vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 107/CT-VKSND-TPNĐ ngày 15-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức D khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51BLHS
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ.
Bị cáo Nguyễn Đức D không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức D tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 20-01-2024, tại khu vực trước cửa số nhà 124 đường Tr, phường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Đức D có hành vi tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,159 gam Heroine, vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 01 lần bị kết án (Đã được xóa án tích) và 01 lần áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Đã được xóa tiền sự). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức D gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, lần phạm tội này bị cáo đã tàng trữ 0,159 gam Heroine để sử dụng, vì vậy cân áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa chung nên quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tương đối phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Đức D là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Đức D do chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode màu vàng đen, biển kiểm soát 18B2-821.69 là tài sản của bà Nguyễn Thị Thanh Thủy (chị gái D). Bà Thủy không biết D mượn xe để mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Thủy là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 02 (Hai năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20-01-2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 369/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).
-
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Đức D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức D có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Trần Công Khánh |
| CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Công Khánh
Bản án số 114/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Dũng - TTMT
