Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Án số: 114/2024/HS-ST

Ngày 19 - 7 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đức và bà Nguyễn Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/QĐXX-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Quang T, sinh ngày 01/01/1971; nơi sinh: Tỉnh Thái Bình; hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nơi ở không ổn định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang B (đã chết, ông B được Nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba) và bà Đỗ Thị S; vợ là chị Trần Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh T1;

Địa chỉ trụ sở: Số B, đường L, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Huy N1 – Chức vụ: Giám đốc;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Hải L – Chức vụ: Trưởng phòng quản trị tổng hợp Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh T1, (có mặt).

Theo Quyết định ủy quyền số 10/QĐ-TBH1 ngày 20/02/2024 của Giám đốc.

Nơi cư trú: Số nhà F, đường B, tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

- Anh Trịnh Quốc K, sinh năm 1990, (vắng mặt);

Nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Chị Đào Mai P, sinh năm 1997, (có mặt);

Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 17/02/2024, bị cáo Đào Quang T đi vào máy ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (viết tắt là Ngân hàng Đ), chi nhánh T1 đặt tại mặt đường L thuộc tổ B, phường T, thành phố T, để rút tiền. Khi vào buồng máy, bị cáo T sử dụng thẻ ATM của bị cáo do Ngân hàng thương mại cổ phần Q phát hành, trên mặt thẻ có dập nổi số 9704222079066155 và dòng chữ tên DAO QUANG TUNG, bị cáo T cắm vào khe thẻ máy ATM. Do không nhớ chính xác mật khẩu nên bị cáo T nhập sai nhiều lần, hệ thống của máy rút tiền tự động thu hồi thẻ ATM của bị cáo vào bên trong máy, bị cáo bực tức đã dùng tay phải đập 02 phát vào màn hình máy ATM loại cảm ứng GRG, kích thước 15inch, chủng loại H22NL. Sau đó bị cáo đi ra ngoài buồng máy ATM, bị cáo nhìn thấy 01 viên gạch lát vỉa hè đã vỡ, kích thước 14x10 cm, bị cáo dùng tay phải cầm viên gạch lên ném vào màn hình máy ATM, viên gạch bật ra, bị cáo tiếp tục nhặt viên gạch lên ném vào màn hình máy ATM làm màn hình máy ATM bị nứt vỡ, hư hỏng rồi bị cáo bỏ đi. Ngày 21/02/2024, người đại diện của Ngân hàng Đ chi nhánh T1 đã trình báo vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T.

- Tại Đơn trình báo và tại lời khai của người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Đ chi nhánh T1, ông Nguyễn Vũ Hải L1 trình bày: Vào hồi 18 giờ 16 phút, ngày 17/02/2024, bị cáo T sử dụng thẻ 9704222079066155 do Ngân hàng TMCP Q phát hành thực hiện giao dịch tại máy ATM, đặt tại khu vực gần Công an tỉnh T, địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T. Sau khi cho thẻ vào máy bị cáo T liên tục bấm phím chức năng, khoảng 02 phút sau bị cáo T liên tiếp dùng tay đập vào màn hình máy ATM loại cảm ứng GRG, kích thước 15inch, chủng loại H22NL, sau đó lấy gạch tại vỉa hè ném 02 lần vào màn hình máy ATM khiến màn hình máy ATM hiệu bị vỡ dẫn đến hư hỏng hoàn toàn. Thiệt hại về tài sản được định giá là 31.240.000 đồng. Ngày 02/5/2024, gia đình bị cáo T thay mặt bị cáo bồi thường đủ số tiền trên cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng không có ý kiến, đề nghị gì về dân sự. Ông L1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người làm chứng anh Trịnh Quốc K trình bày: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 17/02/2024, tại máy ATM của Ngân hàng TMCP Đ, đặt tại khu vực gần Công an tỉnh T, địa chỉ: Tổ B, phường T, thành phố T, anh K vào máy ATM rút số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, anh K rút xong tiền, anh đi ra thì gặp 01 người nam giới khoảng 50 tuổi, mặc áo trắng ngắn tay, đội mũ bảo hiểm đi vào bên trong buồng máy, sự việc tiếp theo diễn ra như thế nào anh không biết.

- Chị Đào Mai P (con gái bị cáo Đào Quang T) trình bày: Sau khi bị cáo Đào Quang T có hành vi đập làm hỏng màn hình máy ATM của Ngân hàng Đ chi nhánh T1, bị cáo T có trao đổi với chị P nhờ chị P khắc phục hậu quả do bị cáo T gây ra. Ngày 02/5/2024, chị P đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo số tiền 31.240.000 đồng cho Ngân hàng Đ chi nhánh T1. Số tiền trên chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị P yêu cầu được tự giải quyết với bị cáo T.

Tại phiên toà bị cáo Đào Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 120/CT – VKSTPTB ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình,tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Đào Quang T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Quang T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản".

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giam 23/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền là 31.240.000 đồng cho Ngân hàng Đ, đại diện của Ngân hàng đã nhận đủ tiền và không có ý kiến, đề nghị gì khác về dân sự. Chị Đào Mai P không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không phải giải quyết về trách nhiệm dân sự.

- Về vật chứng: Đề nghị:

01 phòng bì số 337/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh T, ghi: “Hoàn trả mẫu vật giám định” là tài liệu của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án. 01 viên gạch lát vỉa hè, kích thước 14 x 10 cm đã vỡ là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. 01 màn hình cảm ứng GRG máy ATM Ngân hàng Đ, kích thước 15 inch đã vỡ, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của Ngân hàng Đ chi nhánh T1 xin lại, bị cáo không có ý kiến gì nên trả lại cho Ngân hàng. Đối với 01 thẻ ATM màu xanh, trên mặt thẻ dập nổi số 9704222079066155 và dòng chữ DAO QUANG TUNG do Ngân hàng M phát hành, bị cáo không có nguyện vọng xin lại nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đào Quang T xác định cáo trạng truy tố bị cáo về “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Báo cáo vụ việc của Công an phường T; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm hiện trường và bản ảnh; Kết luận định giá tài sản; Biên bản kiểm tra và niêm phong giữ liệu điện tử; Biên bản giao nhận đồ vật; lời khai của người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/02/2024, tại cây ATM của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đặt tại mặt đường L thuộc tổ B, phường T, thành phố T, do không rút được tiền nên Đào Quang T có hành vi dùng gạch ném làm hư hỏng 01 màn hình cảm ứng GRG, kích thước 15inch, chủng loại H22NL của máy ATM, trị giá 31.240.000 đồng.

[3] Bị cáo Đào Quang T có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có tuổi đời trên 50 tuổi, lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ không ai có quyền làm hư hỏng tài sản của thuộc quyền sở hữu của cá nhân, cơ quan, tổ chức nào. Mọi hành vi cố ý làm hư hỏng đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo nhập mật khẩu không đúng, không rút được tiền tại máy ATM nên đã thực hiện hành vi đập vỡ máy ATM của ngân hàng Đ với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo phù hợp với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự. Điều 178 - Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản: “1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ... 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. ”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo gây ra.

[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo lên dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng, bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hành phạt cho bị cáo; theo đó, khi quyết định hình phạt bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là phạt tù có thời hạn buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

[7.1] Bị cáo T đã tác động đến gia đình và gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt về tài sản cho Ngân hàng Đ số tiền là 31.240.000 đồng, đại diện của Ngân hàng đã nhận đủ tiền và không có ý kiến, đề nghị gì khác về dân sự nên chấp nhận. Gia đình bị cáo T không có ý kiến, đề nghị gì về số tiền gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường cho bị hại nên không phải giải quyết tại bản án này.

[8] Về xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với 01 phòng bì số 337/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh T, ghi: “Hoàn trả mẫu vật giám định, 01 USB theo quyết định trưng cầu giám định số 124/QĐ-CQĐT ngày 07/5/2024 của cơ quan CSĐT Công an thành phố T”, là tài liệu giám định nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.

[8.2] Đối với 01 viên gạch lát vỉa hè, kích thước 14 x 10 cm đã vỡ là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 màn hình cảm ứng GRG máy ATM Ngân hàng Đ, kích thước 15 inch đã vỡ không còn giá trị sử dụng, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin nhận lại tài sản này, bị cáo không có ý kiến gì nên cần tuyên trả lại cho bị hại. Đối với 01 thẻ ATM màu xanh, trên mặt thẻ dập nổi số 9704222079066155 và dòng chữ DAO QUANG TUNG do Ngân hàng M phát hành, bị cáo T sử dụng thẻ để rút tiền tại máy ATM Ngân hàng Đ, bị cáo không đề nghị nhận lại thẻ nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điều 47; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố:

  1. Bị cáo Đào Quang T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Quang T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 23/4/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận gia đình bị cáo Đào Quang T đã thay mặt bị cáo T bồi thường thiệt hại về tài sản cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh T1, số tiền là 31.240.000 đồng, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng đã nhận đủ tiền và không có ý kiến, đề nghị gì khác về dân sự.
  4. Về vật chứng:
    1. 01 phòng bì số 337/KL-KTHS của Phòng K1, Công an tỉnh T, ghi: “Hoàn trả mẫu vật giám định, 01 USB theo quyết định trưng cầu giám định số 124/QĐ-CQĐT ngày 07/5/2024 của cơ quan CSĐT Công an thành phố T”, được lưu theo hồ sơ vụ án.
    2. Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch lát vỉa hè, kích thước 14 x 10 cm đã vỡ và 01 thẻ ATM màu xanh, trên mặt thẻ dập nổi số 9704222079066155 và dòng chữ DAO QUANG TUNG do Ngân hàng M phát hành.
    3. Trả lại 01 màn hình cảm ứng GRG máy ATM, kích thước 15 inch đã vỡ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh Thái Bình
    4. Vật chứng có đặc điểm như ghi tại: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22/02/2024; các Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu, các ngày: 22/02/2024, 26/3/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 21/6/2024.
  5. Án phí: Buộc bị cáo Đào Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2024. Vắng mặt bị hại, báo cho biết có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  7. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường Trần Lãm, TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKS tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T cố ý làm hư hỏng cây ATM của Ngân hàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger