|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/DS-ST |
Ngày: 19-7-2024 |
|
V/v: T/c QSD đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Dư Văn Thanh
Ông Huỳnh Phước
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên
Tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm Sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng,
tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2023/TLST-DS ngày
31 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu
cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
327/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Trần Minh T, sinh năm: 1986. Nơi thường trú: ấp C, xã A, huyện C,
- Bà Quách Thị H, sinh năm: 1987. Nơi thường trú: ấp K, Phường K, thị xã
tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
V, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Thạch Thị L; sinh năm: 1962; Địa chỉ: Số G đường L, Phường
C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Trọng N, sinh năm 1988; Địa chỉ: số G
đường L, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo uỷ quyền
của bị đơn bà Thạch Thị L, theo văn bản uỷ quyền ngày 12/7/2023. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hữu Đ, sinh năm: 1956; Địa chỉ: G đường L, Phường C, thành phố
- Ông Lê Trọng H1, sinh năm: 1993; (Có mặt)
- Bà Trần Thị Hồng H2, sinh năm: 1994; (Có mặt)
S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số F đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc
Trăng.
- Người làm chứng: Bà Hà Thu O; Địa chỉ: số A đường C, Khóm C, Phường
H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 26/5/2023, cũng như trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn ông Trần Minh T và bà Quách Thị H trình bày:
Vào năm 2021, vợ chồng ông T, bà H nhận chuyển nhượng từ bà Hà Thu O
phần đất diện tích 62,5m² thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49, đất toạ lạc tại
Khóm H, Phường C, thành phố S. Khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông, bà chỉ
xuống xem hiện trạng thửa đất, không đo đạc thực tế, cũng không yêu cầu các hộ
giáp ranh ký tên. Khi đó, hai hộ giáp ranh thửa đất của ông bà đã xây dựng nhà và
công trình xây dựng kiên cố.
Sau đó, vợ chồng ông bà đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CX 752235 ngày 05/3/2021, chủ sử dụng đất: Quách Thị H.
Đến ngày 13 tháng 05 năm 2022 khi tiến hành đo đạc lại thì ông, bà phát
hiện diện tích đất của ông, bà bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã được cấp. Hiện chiều ngang mặt trước chỉ còn 3,9m, chiều ngang mặt sau chỉ
còn 2,95m diện tích 53,5m², như vậy diện tích bị lấn chiếm 9m².
Nay ông T và bà H yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:
Buộc bà L tháo dỡ hàng rào bên hông nhà số F của bà Thạch Thị L có chiều
dài 14,8m + 1,05m =15,85m; kết cấu: cột bê tông cốt thép, vách tường gạch cao
0,7m +khung lưới sắt + lưới B40, cửa rào sắt phía sau đã xây dựng trái phép trên
phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông T, bà H để trả lại cho
ông bà phần đất diện tích 9,0m², có số đo tứ cận như sau:
- Hướng nam: giáp hẻm F có số đo 0,1m.
- Hướng B: giáp thửa số 8 của hộ Lê Thị Hồng N1 có số đo 1,05m.
- Hướng Đông giáp thửa 24 của hộ Thạch Thị L có số đo 15,65m;
- Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 23 (của ông T, bà H) có số đo
15,67m;
Nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc thực tế thửa đất cũng như kết
quả xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Lê Trọng N:
Nguồn gốc thửa đất số 24, tờ bản đồ 49, diện tích 78,5m², đất toạ lạc tại
Khóm H, Phường C, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y
343532 do UBND thị xã nay là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Thạch
Thị L ngày 30/12/2003 là do bà L và chồng nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Văn
T1 vào ngày 10/7/1998, việc chuyển nhượng chỉ làm giấy tay. Đến năm 2003, bà
L xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó, có tiến hành họp dân và các
hộ kế cận đều có ký giáp ranh để xác định ranh giới thửa đất.
Theo bà L, mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 343532 do
UBND thị xã nay là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Thạch Thị L ngày
30/12/2003. Tuy nhiên, vào thời điểm bà nhận Lụa và chồng nhận chuyển nhượng
đất từ ông Bùi Văn T1 vào năm 1998, thì các con của bà lớn nhất chỉ 13 tuổi,
không có công sức đóng góp gì nên đất này là tài sản chung của vợ chồng bà.
Đến năm 2010 thì bà L xây dựng nhà kiên cố trên đất với chiều ngang
4,0m, chừa lại một khoảng trống 01 m phía giáp với thửa đất của nguyên đơn để
xây dựng tường rào kiên cố và sử dụng ổn định từ năm 2010 cho đến nay, không
có sửa chữa, xây dựng gì thêm.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phía bị đơn bà L không đồng
ý vì bà L sử dụng đúng với diện tích, vị trí đất mà mình đã được cấp, đồng thời
đã sử dụng ổn định từ năm 1998 cho đến nay.
Bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc thực tế thửa đất cũng như kết quả
xem xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024 và tại phiên toà người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hữu Đ trình bày: Ông Đ và bà Lụa là vợ chồng.
Ông Đ thống nhất với lời trình bày của bà L về nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa
đất. Theo ông Đ, mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 343532 do
UBND thị xã nay là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Thạch Thị L ngày
30/12/2003. Tuy nhiên, vào thời điểm vợ chồng ông, bà nhận chuyển nhượng đất
từ ông Bùi Văn T1 vào năm 1998, thì các con của ông, bà lớn nhất chỉ 13 tuổi,
không có công sức đóng góp gì nên đất này là tài sản chung của vợ chồng bà. Nay
qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đ không đồng ý.
Ông Đ thống nhất với kết quả đo đạc thực tế thửa đất cũng như kết quả xem
xét, thẩm định tại chỗ và kết quả định giá tài sản.
Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hồng H2 và ông
Lê Trọng H1 trình bày: Ông bà thống nhất với lời trình bày của phía bị đơn bà L
và không trình bày bổ sung. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông bà
không đồng ý.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác
định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ
đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp
tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện
đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68;
70, 71, 73 và 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người làm
chứng bà Hà Thu O không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát
biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1]. Nguyên đơn ông T, bà H khởi kiện yêu cầu bị đơn bà L tháo dỡ tường
rào bê tông để trả lại cho ông bà diện tích đất 9,0m². Hội đồng xét xử xác định
quan hệ pháp luật để giải quyết vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo quy định tại khoản 2, 9
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng là bà Hà Thu O đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không rõ lý do nhưng trước đó đã có
lời khai trực tiếp với Tòa án. Căn cứ Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn
cho rằng nguồn gốc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 49 mà ông bà đang quản lý sử
dụng là nhận chuyển nhượng lại từ bà Hà Thu O vào năm 2021 và theo bị đơn bà L
thì nguồn gốc thửa đất số 24, tờ bản đồ 49 mà bà đang quản lý sử dụng là do bà L
và chồng là ông Lê Hữu Đ nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Văn T1 vào ngày
10/7/1998. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tình tiết
không phải chứng minh.
[4] Về kết quả đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Theo kết quả đo đạc
hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh S xác nhận ngày 06/3/2024
thì thửa đất số 23 của nguyên đơn có diện tích 52,4m²; thửa đất số 24 của bị đơn
có diện tích 78,2m²; phần đất tranh chấp có diện tích 9,0m² và có tứ cận: Hướng
nam giáp hẻm F có số đo 0,1m; hướng Bắc giáp thửa số 8 của hộ Lê Thị Hồng N1
có số đo 1,05m; Hướng Đông giáp thửa 24 của hộ Thạch Thị L có số đo 15,65m;
Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 23 (của ông T, bà H) có số đo 15,67m; và
đơn giá đất 9,0m² loại đất ODT là 4.619.000 đồng/m²; hàng rào có giá là 8.011.350
đồng. Các đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc và kết quả định giá như
trên nên Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả trên làm cơ sở giải quyết vụ án.
[5] Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số CX 752235 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S
cấp ngày 05/3/2021, chủ sử dụng đất: Quách Thị H, thì thửa đất của nguyên đơn
được cấp có chiều ngang phía trước (giáp hẻm F đường T) là 4,0m, chiều ngang
phía sau là 4,0m, chiều dài cạnh giáp với đất bà Lụa là 15,68m; chiều dài cạnh
giáp với thửa đất 22 là 15,6m; diện tích 62,5m². Theo đo đạc thực tế thì hiện nay
phần đất mà ông T, bà H đang quản lý, sử dụng có chiều ngang phía trước là
3,9m, chiều ngang phía sau 2,81m; chiều dài cạnh giáp với đất bà Lụa là
15,67m; chiều dài cạnh giáp với thửa đất 22 là 15,58 m diện tích 52,4m². So với
diện tích mà ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu
10,1m².
[6] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 343532 do UBND thị
xã nay là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Thạch Thị L ngày 30/12/2003. Tại
Công văn số 1019/UBND-HC ngày 24/5/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố S
xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ bà Thạch Thị L. Tuy
nhiên, bà L và ông Đ cho rằng phần đất này vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ
ông T1 vào năm 1998, khi này các con của ông, bà lớn nhất chỉ 13 tuổi, không có
công sức đóng góp gì nên đất này là tài sản chung của vợ chồng ông bà và trong
hồ sơ cấp giấy đều thể hiện nguồn gốc phần đất này vợ chồng bà L nhận chuyển
nhượng từ ông T1. Do đó, có cơ sở xác định quyền sử dụng đất tại thửa số 24 tờ
bản đồ số 49, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 343532 do UBND
thị xã nay là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 30/12/2003 là của bà L và ông
Đ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất bà L được cấp có chiều
ngang phía trước giáp hẻm F đường T) là 5,0m, chiều ngang phía sau là 5,0m,
chiều dài cạnh giáp với thửa đất 23 (của nguyên đơn) là 15,68m; chiều dài cạnh
còn lại là 15,78m, diện tích 78,5 m². Theo đo đạc thực tế thì hiện nay phần đất mà
bà L đang quản lý, sử dụng chiều ngang phía trước là 5,02m, chiều ngang phía sau
là 4,97m; chiều dài cạnh giáp với thửa đất 23 (của nguyên đơn) là 15,67m; chiều
dài cạnh còn lại là 15,71m; diện tích 78,2m². So với diện tích mà bà L được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu 0,3m².
[7] Tại Công văn số 302/CNTPST ngày 01/4/2024 của Văn phòng đăng ký
đất đai tỉnh S cung cấp: Do thửa đất số 24, tờ bản đồ số 49 được UBND thị xã nay
là thành phố S tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ bà Thạch Thị L từ năm 2003 không có
bảng kê toạ độ tại vị trí các góc ranh thửa đất (Hệ tọa độ Quốc gia V). Mặt khác
thửa đất số 23 và 24 đang có tranh chấp nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sóc
Trăng không có cơ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa nào, ai đang
quản lý sử dụng. Do đó Tòa án căn cứ vào sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất và các
tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ làm cơ sở giải quyết vụ án.
[8]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà L tháo dỡ
công trình tường rào bê tông xây dựng trên phần diện tích đất thuộc quyền sử
dụng của vợ chồng ông T, bà H để trả lại cho ông bà diện tích đất 9,0m², thấy
rằng: Theo nguyên đơn tại thời điểm ông bà nhận chuyển nhượng đất từ bà Hà Thu
O, mặc dù phía bà O có dẫn vợ chồng ông đến xác định vị trí thửa đất nhưng các
bên căn cứ vào số đo theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứ không đo đạc
thực tế, cũng như không yêu cầu các hộ có đất giáp ranh xác định ranh đất. Đồng
thời, vào thời điểm ông T, bà H nhận chuyển nhượng đất thì trên thửa đất số 24
của bà L đã được xây dựng nhà và hàng rào kiên cố, hiện trạng ranh đất giữa ông
T, bà H với bà L từ khi ông bà nhận chuyển nhượng đất cho đến nay không có sự
thay đổi.
[8] Qua đo đạc thực tế, mặc dù phần đất mà ông T, bà H đang quản lý, sử
dụng nhỏ hơn so với diện tích mà ông, bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là 10,1m² và ông bà cho rằng bà L đã xây dựng nhà, công trình xây dựng
sai vị trí lấn sang phần đất của ông bà với chiều ngang trước là 0,1m; chiều ngang
sau là 1,05m; diện tích 9,0m² nhưng phía bà L không thừa nhận có sử dụng lấn
sang đất của ông, bà và ông, bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng
minh. Đồng thời, phần đất mà bà L đang quản lý, sử dụng nhỏ hơn diện tích đất
mà bà được cấp giấy là 0,3m².
Do đó, việc ông T, bà H khởi kiện yêu cầu bà Thạch Thị L tháo dỡ hàng rào
chiều dài 15,85m; kết cấu: cột bê tông cốt thép, vách tường gạch cao 0,7m + khung
lưới sắt + lưới B40, cửa rào sắt phía sau để trả lại cho ông bà phần đất diện tích
9,0m² là không có căn cứ, không được Toà án chấp nhận.
[9]. Như đã phân tích trên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ
nên được chấp nhận.
[10]. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: ông Trần
Minh T và bà Quách Thị H phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và
định giá số tiền 11.009.382 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng xong.
[11]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn không được
chấp nhận nên phải chịu án số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều
26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39,
- Điều 166, 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
- Khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30
Điều 157, 158, 165, 166, Điều 229, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Minh T và
- Hướng nam: giáp hẻm F có số đo 0,1m.
- Hướng B: giáp thửa số 8 của hộ Lê Thị Hồng N1 có số đo 1,05m.
- Hướng Đông giáp thửa 24 của hộ Thạch Thị L có số đo 15,65m;
- Hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 23 (của ông T, bà H) có số đo
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Minh T và bà Quách Thị H phải chịu
bà Quách Thị H về việc yêu cầu bị đơn bà Thạch Thị L tháo dỡ hàng rào có chiều
dài 14,8m + 1,05m = 15,85m; kết cấu: cột bê tông cốt thép, vách tường gạch cao
0,7m +khung lưới sắt + lưới B40, cửa rào sắt phía sau, để trả lại cho ông bà phần
đất diện tích 9,0m², có tứ cận như sau:
15,67m;
án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí mà ông T, bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Toà án số 0008719 ngày 26/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Sóc Trăng.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá: Ông Trần Minh T và bà Quách
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong
Thị H phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá số tiền
11.009.382 đồng. Ông T, bà H đã nộp tạm ứng xong.
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét
xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
các Điều 6, 7, Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm
2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lâm Thị Kim Hằng |
Bản án số 114/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 114/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không cấp nhận yêu cầu
