|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 114/2023/HS-PT. Ngày: 17/11/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Khương; Ông Nguyễn Thành Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.
- Người hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thanh P - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (điểm cầu trung tâm) và tại Trại tạm giam – Công an tỉnh S (điểm cầu thành phần) xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 117/2023/TLPT-HS ngày 11/10/2023 đối với bị cáo Phan Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Phan Thanh T (Tên gọi khác: Cù T1), sinh ngày 27/9/1998; Nơi sinh: Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số C, Quốc lộ A, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Thanh N và bà Thái Thị Đ; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Có 02 tiền án, cụ thể như sau: Lần 1, tại Bản án số 05/2018/HS-ST ngày 07/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, Phan Thanh T bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/3/2019; Lần 2, tại Bản án số 23/2020/HS-ST ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Phan Thanh T bị xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 12/3/2022; Tiền sự: Không; Nhân Thân: Có 01 lần bị Tòa án kết tội nhưng đã được xóa án tích và 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, cụ thể: Tại Bản án số 11/2013/HSST ngày 11/12/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, Phan Thanh T bị xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày ngày 18/8/2015 đã được xóa án tích và tại Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, T-UB ngày 01/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường F, thành phố S, Phan Thanh T bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 03 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Bị cáo bị áp dụng biên pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 17/4/2023 cho đến nay; (có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị cáo Lý Thanh T2; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thạch Minh L; Người làm chứng Hồ Công L1 và Phạm Thanh T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 13/3/2023, Lý Thanh T2 đang ở nhà thì có anh Thạch Minh L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 83C1-230.92 đến chơi. Lúc này, T2 mới hỏi mượn xe của anh L để đi mượn tiền về chuyển tiền cho bạn gái đang đi từ thành phố Hồ Chí Minh về nhà của T2 chơi và được anh L đồng ý. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô biển số 83C1-230.92 đi đến thành phố S để mượn tiền thì gặp người bạn tên là Kim L2, T2 hỏi mượn tiền và được Kim L2 đồng ý cho mượn 100.000 đồng. T2 tiếp tục điều khiển xe đi vào thành phố S, khi đi ngang qua nhà của Phan Thanh T thì thấy T đang ở nhà nên ghé chơi và T2 rủ T hùn tiền mua ma tuý để cùng nhau sử dụng thì T đồng ý; T2 nói với T chỉ còn 130.000 đồng thì T lấy từ trong túi ra 170.000 đồng đưa cho T2 giữ tiền. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở T2 vào hẻm V thuộc thành phố S để mua ma túy về sử dụng. Khi đi vào Hẻm Vành đai khoảng 300-400m đến căn nhà tường màu xanh thì T dừng xe lại bên ngoài để T2 đi vào mua ma tuý. Lúc này, T2 đi đến cửa sổ căn nhà thì thấy có khe hở nhỏ trên cửa, T2 nhìn qua khe hở thấy bên trong có người nhưng không nhìn rõ được đặc điểm, T2 lấy 300.000 đồng là tiền của T2 và T hùn lại với nhau trước đó và đưa vào khe hở trên cửa cho người bên trong lấy tiền. Khoảng 02-03 phút sau bên trong có người đưa qua khe hở cho T2 một túi nilong được hàn kín (sau này xác định là túi nilong chứa ma tuý). T2 cầm gói nilong bỏ vào trong gói thuốc lá hiệu JET rồi để vào trong túi quần của T2 đang mặc và ra xe để T chở T2 đi về nhà của T. Sau khi về đến nhà của T, T2 đi lại quán nước gần đó mua nước uống và thuốc hút thì gặp được người bạn tên H và T2 hỏi mượn anh H 100.000 đồng để chuyển tiền cho bạn gái thì được anh H cho mượn tiền rồi anh H chạy xe đi. Lúc này, T2 quay về nhà của T và hỏi T còn tiền không để cho T2 mượn tiền để chuyển cho bạn gái, do không còn tiền nên T hỏi chị Nguyễn Trà M (là bạn gái của T) lấy chiếc điện thoại Iphone 6 màu trắng do Thêm mua cho chị M sử dụng đi cầm đưa tiền cho T2 mượn và chị M đồng ý. Sau khi lấy điện thoại T điều khiển xe mô tô chở T2 đến một tiệm điện thoại (ở thành phố S) cầm được số tiền 300.000 đồng. Sau khi lấy tiền cầm điện thoại T đưa cho T2 mượn 200.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe chở T2 đi mượn tiền ở thị trấn K, khi T điều khiển xe đến đoạn đường ở ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (trước Nghĩa trang L3) thì có lực lượng Công an đang kiểm tra, T2 sợ bị kiểm tra phát hiện có gói ma tuý vừa mua ở thành phố S mà mình đang cất giữ trong người, nên T2 lấy gói thuốc lá có chứa đựng gói ma tuý ném xuống mé sông nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong các tang vật có liên quan, đưa T2 và T về cơ quan để phục vụ điều tra. Tại Cơ quan Điều tra, T2 và T đã thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 15/KLGĐMT-PC09, ngày 18/02/2022 của Phòng K Công an tỉnh S xác định: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3176 gam, loại Methamphetamine”. Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng sau giám định là 0,2602 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Thanh T.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lý Thanh T2.
- - Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T và Lý Thanh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Phan Thanh T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2023.
- - Xử phạt bị cáo Lý Thanh T2 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
* Ngày 05/9/2023, bị cáo Phan Thanh T kháng cáo xin giảm hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Phan Thanh T giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Thanh T lập, được Nhà tạm giữ Công an huyện T xác nhận vào ngày 05/9/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phan Thanh T theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị Phan Thanh T như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Thanh T khai nhận, vào khoảng 17 giờ 10 phút ngày 13/3/2023 tại ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Phan Thanh T và Lý Thanh T2 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K kiểm tra, bắt quả tang và niêm phong bịch nylon chứa chất tinh thể rắn nghi là ma túy để giám định. Tại Kết luận giám định số 15/KLGĐMT-PC09, ngày 18/02/2022 của Phòng K Công an tỉnh S xác định: “Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3176 gam, loại Methamphetamine”. Xét lời khai nhận của bị cáo T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Đồng thời, bị cáo T đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2020/HS-ST ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 12/3/2022 nhưng chưa được xáo án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[4] Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phan Thanh T: Xét khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, có trình độ học vấn thấp theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Xét thấy, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo và tuyên phạt bị cáo T mức án 06 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo hay tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo được áp dụng nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phan Thanh T.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Phan Thanh T (C). Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. - Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Phan Thanh T (C) 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/4/2023. - Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử buộc bị cáo Phan Thanh T (C) chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). - Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 114/2023/HS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 114/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt, giữ nguyên án sơ thẩm
