Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 7 - 2024

V/v tranh chấp xin ly hôn và

giải quyết việc nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Phạm Hồng Gái
  2. Ông Nguyễn Văn Đoạt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ý N, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ C, ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Các đương sự vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ý N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được gia đình hai bên chấp thuận cho tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/8/2013. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân của anh chị rất hòa thuận, hạnh phúc, anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Thị Yến T, sinh ngày 31/01/2021, tuy nhiên từ đầu năm 2023 giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh H thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, chơi cờ bạc, anh H không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình, chị có khuyên nhủ nhưng anh không sửa đổi. Chị nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh H. Về con chung, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Vợ chồng anh chị chung sống với nhau từ năm 2012, có tiến hành làm đám cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc và có 02 con chung tên Nguyễn Thị Yến V và cháu Nguyễn Thị Yến T1, nhưng khoảng thời gian gần đây anh bị tai nạn không làm ra tiền nên chị N bỏ về bên cha mẹ ruột sinh sống, chị N trình bày anh không lo lắng cho gia đình là hoàn toàn không đúng. Sau khi sức khỏe anh hồi phục anh có xin đi biển và gởi tiền về cho chị N lo cho con cái nhưng chị N nhất quyết không chịu nhận. Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý, vì anh còn thương vợ con, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau lo cho con cái đến khi trưởng thành. Trường hợp chị N cương quyết ly hôn, thì anh yêu cầu được nuôi cháu V đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con, vì từ nhỏ cháu V đã sống với anh và ông bà nội, gia đình anh chỉ có cháu hủ hỉ với ông bà. Về tài sản chung, anh chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ và cho vay nợ, không có nên anh không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị N, anh H nhưng anh, chị vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, Điều 227 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H chung sống với nhau có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 02/8/2013, do đó hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian đầu, chị và anh H chung sống hạnh phúc trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có với nhau 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Thị Yến T, sinh ngày 31/01/2021. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2023, giữa chị và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung sống nhưng thiếu sự quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, khiến cho cuộc sống hôn nhân rạn nứt, hiện tại chị và anh H sống ly thân. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị về việc cho chị ly hôn với anh H.

[4] Về nuôi con chung: Từ khi anh chị sống ly thân, hai cháu Nguyễn Thị Yến V và Nguyễn Thị Yến T sống với chị N ở ấp T, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang, hiện tại cháu T1 còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ và cháu V cũng chuyển trường học về xã B nơi chị N cư trú, hiện tại chị N vẫn đảm bảo cuộc sống về vật chất và tinh thần cho hai con, cháu V có nguyện vọng muốn ở với mẹ, do đó Hội đồng xét xử xét nên giao hai con cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh H xác nhận quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chị N yêu cầu ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị N phải có nghĩa vụ nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51, khoản 1, Điều 56, các điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Ý N ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  2. Về nuôi con chung: Giao hai cháu Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 26/8/2013 và Nguyễn Thị Yến T, sinh ngày 31/01/2021 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi). Anh H được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  5. Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị N đã tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001009 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị N đã nộp xong.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - CCTHADS huyện Hòn Đất;
  • - Phòng KTNV và Thi hành án TA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - UBND xã Mỹ Lâm;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tuyết Mai

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ý N và Nguyễn Văn H ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger