Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-5-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý

Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Quang D, nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng, chỗ ở hiện tại: Số D, đường I 3-gil, Hwasun-eup, Hwasun-gun, tỉnh Jeollanam-do, Hàn Quốc; vắng mặt;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, nơi cư trú: Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (đã hợp pháp hóa lãnh sự) của nguyên đơn là anh Ngô Quang D trình bày:

Anh Ngô Quang D và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/4/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không còn như trước. Vì mâu thuẫn vợ chồng cùng với kinh tế khó khăn, anh D đã đi làm việc tại Hàn Quốc theo diện xuất khẩu lao động. Kể từ khi anh D sang Hàn Quốc, mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn, gia đình, bạn bè hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả, không có tiếng nói chung. Anh Dũng đã nhiều lần đề nghị ly hôn nhưng chị H không đồng ý, gây khó khăn trong quá trình hoàn thiện thủ tục. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh Ngô Quang D và chị Nguyễn Thị H có một con chung là Ngô Quang H1, sinh ngày 13/9/2004. Hiện nay, cháu H1 đã trưởng thành, không cần phải cấp dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Ngô Quang D và chị Nguyễn Thị H tự giải quyết về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị H:

Qua xác minh tại địa phương, chị H hiện nay đang cư trú tại Thôn G, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, chị H thường xuyên đi làm, tối muộn mới về nhà nên không thể lấy lời khai chị H; con trai của chị H và anh D là anh Ngô Quang H1 đã nhập ngũ nên không ở nhà; bố mẹ của chị H không sinh sống tại địa phương và không có thông tin.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho chị Nguyễn Thị H. Tuy nhiên đến nay, Tòa án chưa nhận được thông tin gì từ chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về việc ly hôn. Bị đơn là chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú ở thành phố Hải Phòng, nguyên đơn anh Ngô Quang D hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Anh Ngô Quang D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị H đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh Ngô Quang D và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/4/2003. Theo Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp. Dù hai bên gia đình, bạn bè đã khuyên bảo, hòa giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Vợ chồng ly thân nhiều năm, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, anh D đã không còn tình cảm vợ chồng với chị H, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Quang D đối với chị Nguyễn Thị H.

[4] Về con chung: Anh chị có một con chung là Ngô Quang H1 sinh ngày 13/9/2004, hiện đã tưởng thành, không cần phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Anh Ngô Quang D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Ngô Quang D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Quang D.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Quang D được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Hiện cháu Ngô Quang H1, sinh ngày 13/9/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, không cần phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Ngô Quang D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Ngô Quang D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000030 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Ngô Quang D đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Anh Ngô Quang D (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Lại Xuân, huyện Thuỷ Nguyên,
  • thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Tuyến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thuý

Nguyễn Nam Tuấn

Nguyễn Xuân Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 114/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger