|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 16 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Ngọc Sáng;
Ông Ngô Quang Bình;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác ở điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án thành phố Từ Sơn, B V N ở điểm cầu tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 29/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 04/4/2024 đối với bị cáo:
B V N, sinh năm 1992. Giới tính: Nam.
HKTT: Thôn x, xã Y, huyện T, tỉnh H
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Mường;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Hiệp, sinh năm 1965; Con bà: Bùi Thị Chon, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không;
Tiền án: Tại bản án số 10/2016/HSST ngày 18/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt B V N 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Ngày 16/6/2021 B V N chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh).
Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đình Thành – Thư ký, cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên B V N đi bộ một mình ra khu vực bờ mương thuộc khu phố Tiến Bào phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mục đích để tìm mua ma túý sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua được của một nam thanh niên không quen biết 200.000 đồng tiền ma túy Heroine được 02 gói nhỏ được đều được bọc ngoài là lớp giấy màu trắng xanh đỏ. Sau khi mua được số ma túy trên, N cầm ở lòng bàn tay phải và bỏ đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, khi N đang đi bộ ở đoạn đường khu vực bờ mương thuộc khu phố Tiến Bào phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Ngày 17/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn ra Quyết định trưng cầu số 443 trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định chất ma túy trong phong bì thư niêm phong gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 76/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ được bọc ngoài là giấy màu trắng xanh đỏ có khối lượng là 0,1233 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine".
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSTS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố B V N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội về hành vi phạm tội của bị cáo và giữ N quan điểm của Cáo trạng đã truy tố bị cáo B V N. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo B V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt B V N từ 17 đến 20 tháng tù. Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 40 phút ngày 17/12/2023, tại đoạn đường bờ mương thuộc khu phố Tiến Bào, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường Phù Khê kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang B V N có hành vi tàng trữ trái phép 0,1233 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe, nhân cách con người, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ma túy còn là N nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và ý thức được tác hại của ma túy, song với ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn lao vào con đường sử dụng ma túy. Do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo
- + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, Tại Bản án số 10/2016/HSST ngày 18/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt B V N 07 năm tù về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Ngày 16/6/2021, B V N chấp hành xong toàn bộ bản án. Ngày 17/12/2023 bị cáo phạm tội mới chưa được xóa án tích, lần nay bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị coi là tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên cần phải có một hình phạt cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo trình bày có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản, do vậy cần xem xét miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
[8] Liên quan trong vụ án này có 01 nam thanh niên đã bán ma túy cho N. Quá trình điều tra, chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Do vậy Cơ quan điều tra Công an thành phố Từ Sơn tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: B V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Xử phạt: B V N 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/4/2024 để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật còn lại sau giám định, mặt trước phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ B V N - 1992 - Thành Long, Thạch Thành, Thanh Hóa, TTTPCMT”. Mặt sau có giấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Sỹ Khả |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tang trũ ma túy hẻoin
