|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/DS-PT
Ngày: 16 - 04 - 2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tuấn
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Thành Công
Ông Bùi Văn Biền
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 125/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 135/2024/QĐXXPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang
Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957. Cùng trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N (tên gọi khác: T), sinh năm 1948. Địa chỉ: Số nhà B - M, Phường Q, TP N.
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Chị H uỷ quyền cho ông N tham gia tố tụng tại Toà án.
Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1982, anh Phạm Văn H2, sinh năm 1978
Cùng trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Trợ giúp pháp lý bảo vệ cho ông N: Bà Nguyễn Thị T1, Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Bà Y ủy quyền cho ông N; ông N, bà T1, ông M, bà D, anh H2, anh H1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn trình bày, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày: Bố bà là cụ Nguyễn Văn Ú, mẹ là cụ Đoàn Thị T2 đều chết năm 1956. Hai cụ sinh thành được 03 chị em gồm: bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1939 (chết 2021), ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1948, bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1954. Các cụ không có con nuôi hay con riêng nào khác. Khi cụ Ú, cụ T2 còn sống có sử dụng 1700m² đất của ông cha để lại tại xóm A, thôn L, xã T, có 03 gian nhà tranh vách đất. Sau khi cụ Ú, cụ T2 chết, nhà đất do cụ Nguyễn Văn Đ quản lý, chị em bà còn nhỏ phải đi ở nhờ nhà các chú trong họ. Đến khi trưởng thành bà K đi thanh niên xung phong ông N đi bộ đội, bà Y phải đi ở làm thuê, cả 03 chị em đều xa quê. Đến năm 1972, ông N về xin lại cụ Đ toàn bộ ruộng đất của bố mẹ để lại và đăng ký tên sử dụng đất bà Nguyễn Thị K. Năm 1983, bà K đi lấy chồng ở Tuyên Quang cắt khẩu theo chồng, bà K đã trả hết đất ruộng cho HTX lúc bấy giờ. Năm 2018, bà Y có hỏi ông N về đất của bố mẹ để lại thì được ông N cho biết là năm 1985 ông N đã bán cho gia đình bà D, hai bên mua bán không có giấy tờ, hợp đồng bằng miệng, việc mua bán này bà Y không biết. Bà Y đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán đất bằng miệng giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D là vô hiệu. Buộc ông M và bà D trả lại quyền sử dụng đất có diện tích 1700m² tại thửa số 591 tờ bản đồ lập năm 1986, nay là thửa số 80, 81 tờ bản đồ lập năm 1994 có địa chỉ tại xóm A thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại bản tự khai, bà Nguyễn Thị D và ông Phạm Văn M trình bày: Năm 1985, ông N gọi ông bà đến bán toàn bộ nhà đất với giá 1.200 đồng tương đương 12 chỉ vàng, tôi đã trả cho ông N 800 đồng tương đương 08 chỉ vàng, còn nợ lại 400 đồng, sau đó khoảng 3-4 tháng bà Y có cầm giấy viết tay của ông N về đòi hết tiền, gia đình ông bà đã trả tiền cho ông N, bà Y hết tiền nhà đất, do thời kỳ đó anh em tin nhau nên không viết giấy tờ gì, có cụ Đ chứng kiến nhưng đến nay đã chết nên không còn người làm chứng. Bà D, ông M không chấp nhận ý kiến của ông N và bà Y.
Ý kiến của anh H1, anh H2: Nếu ông N có giấy tờ xác nhận là bố mẹ các anh còn nợ 400 đồng thì mới chấp nhận đàm phán với ông N, bà Y.
Ông N có ý kiến: Nguồn gốc đất như bà Y trình bày, năm 1985 ông N bán cho gia đình ông M toàn bộ thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ, bản đồ địa chính 1985 đứng tên bà K. Trên đất ông N đã xây 03 gian gạch sỉ nhà cấp 4 (hiện nay ngôi nhà này vẫn còn), ông N bán đất cho bà D nhưng chưa viết giấy tờ mua bán, hai bên chỉ mua bán thoả thuận miệng, bà D trả tiền cho ông N cũng không có giấy tờ. Ông N mới nhận của bà D 800 đồng tương đương với 2/3 diện tích đất, số tiền còn lại vợ chồng ông M không trả là 400 đồng tương đương 1/3 diện tích đất. Ông N yêu cầu vợ chồng ông M phải trả lại 1/3 giá trị đất theo giá thị trường là 1.121.000.000đồng.
Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ tại địa phương xác định: Bản đồ 299 năm 1986, thửa đất số 591 mang tên bà K có diện tích 1700m², trong đó đất ở là 400m², đất vườn 900m², đất ao 280m², đất lúa 120m². Bản đồ 1992 lập năm 1994 thửa 591 được tách thành hai thửa là thửa 80 có 432m² đất vườn tạp. Thửa 81 có 1149m² trong đó 331m² đất ở, 560m² đất vườn, 258m² đất ao. Hai thửa đất trên đều mang tên ông M và đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất năm 1997. Đến năm 2020, bà Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Y làm đơn đề nghị UBND xã T giải quyết tranh chấp đất đai, tại biên bản hoà giải ngày 12/10/2021 ông N có thừa nhận bán đất cho bà D, nhưng bà D chưa trả hết tiền. Bà D cho rằng gia đình bà đã thoả thuận mua bán và đã trả hết tiền. Quan điểm của UBND xã T đề nghị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh giải quyết theo quy định pháp luật.
Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2022/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã quyết định: Căn cứ Điều 116, 117,118, 236 BLDS 2015; Điều 48,49 Luật đất đai 1987, Nghị Quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y đòi lại tài sản là diện tích 1700m² tại thửa số 591 tờ bản đồ lập năm 1986, nay là thửa số 80, 81 tờ bản đồ lập năm 1994 có địa chỉ tại xóm A thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
- Tách yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N đòi tài sản đối với số tiền bà D, ông M còn nợ thành vụ án khác khi có đủ căn cứ giải quyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 09/10/2023, bà Nguyễn Thị Y làm đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh. Lý do của việc kháng cáo: Đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán đất bằng miệng giữa ông N và bà D vô hiệu. Buộc bà D và ông M phải trả lại diện tích đất 1700 m2. Buộc ông M, bà D trả chị em tôi 1/3 diện tích đất tương ứng với số tiền mua đất còn nợ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu của tôi trước khi mở phiên họp công khai chứng cứ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tôi. Tôi đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo của tôi để giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa, bà T1 trình bày: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y. Buộc ông M và bà D trả lại cho bà Y 1/3 diện tích đất tương ứng 527 m2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Kiến nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm về việc thụ lý yêu cầu phản tố của ông N không đúng quy định của pháp luật.
Về án phí đương sự phải nộp theo qui định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Y nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Y:
[2.1] Nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất: Cụ Nguyễn Văn Ú, cụ Đoàn Thị T2 đều chết năm 1956. Hai cụ sinh thành được 03 người con gồm: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1939, ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1948, bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1954. Không có con nuôi hay con riêng nào khác. Khi cụ Ú, cụ T2 còn sống có sử dụng 1700m² đất của ông cha để lại tại xóm A, thôn L, xã T, trên đất có 03 gian nhà tranh vách đất. Sau khi cụ Ú, cụ T2 chết, bà K, ông N, bà Y còn nhỏ phải đi ở nhờ các chú trong họ, đến khi trưởng thành bà K đi thanh niên xung phong, ông N đi bộ đội, bà Y đi ở làm thuê, cả 03 người đều xa quê. Đến năm 1972, ông N về xin lại cụ Đ toàn bộ ruộng đất của bố mẹ ông N để lại và đăng ký tên sử dụng đất bà Nguyễn Thị K được thể hiện trên bản đồ địa chính 299, thời gian này ông N dỡ nhà tranh vách đất và xây dựng 01 ngôi nhà cấp 4 trên đất. Năm 1983, bà K lấy chồng ở Tuyên Quang cắt khẩu theo chồng, bà K đã trả hết đất ruộng cho HTX, năm 1973 bà Y lấy chồng ở Tuyên Quang cắt khẩu theo chồng, ông N cũng cắt khẩu chuyển sinh sống tại thành phố N. Diện tích đất 1700m² vẫn tên bà K được thể hiện trên bản đồ 299 năm 1986.
Năm 2020, bà K, ông N, bà Y đã làm đơn đến UBND xã T đề nghị phân chia thừa kế đối với diện tích đất 1700m² là di sản có nguồn gốc của cụ Ú, cụ T2 là bố, mẹ bà để lại. Quá trình giải quyết tại UBND xã T, ông Nguyễn Văn N đã thừa nhận năm 1985, ông tự mình bán toàn bộ diện tích đất 1700m² đất cho bà D với giá 1.200 đồng tương đương 12 chỉ vàng 9999, nhưng bà D mới trả cho ông N được 800 đồng tương đương 08 chỉ vàng 9999, còn 400 đồng tương đương 04 chỉ vàng bà D chưa trả, chính vì vậy ông N chưa viết giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà D.
Bà D và ông ông M xác định năm 1985 ông bà mua đất của ông N và đã trả tiền cho ông N 800 ngàn đồng tương đương 08 chỉ vàng 9999, còn nợ 400 ngàn đồng tương đương 04 chỉ vàng, sau đó một thời gian bà Nguyễn Thị Y ở Tuyên Quang về có đưa tờ giấy viết tay của ông N đòi số tiền 400 ngàn đồng còn nợ, bà D đã trả số tiền đó cho bà Y, việc bà D trả hết số tiền còn nợ lại cho bà Y không có giấy tờ chứng minh. Gia đình bà D, ông M đã sử dụng toàn bộ thửa đất đó từ năm 1985 về kê khai hồ sơ địa chính, đến năm 1997 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phạm Văn M.
[2.2] Xem xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Y đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán đất bằng miệng giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D là vô hiệu. Buộc ông M và bà D trả lại quyền sử dụng đất có diện tích 1700m² tại thửa số 591 tờ bản đồ lập năm 1986, nay là thửa số 80, 81 tờ bản đồ lập năm 1994 có địa chỉ tại xóm A thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Căn cứ hồ sơ địa chính và bản dồ địa chính 299 lập năm 1986 xã T, thửa đất số 591 diện tích 1700m² tên bà Nguyễn Thị K, đất có nguồn gốc của cụ Ú, cụ T2 là bố mẹ của bà K, ông N, bà Y là đúng. Cụ Ú, cụ T2 chết năm 1956 khi đó chị em bà K còn nhỏ vẫn sinh sống tại địa phương xã T. Đến khi trưởng thành, cả 03 chị em bà K đều đi thoát ly không còn ở nơi sinh quán và chuyển hộ khẩu đi địa phương khác sinh sống. Năm 1985, ông N là đồng thừa kế đã tự mình bán toàn bộ 1700m² đất, trên đất có ngôi nhà xây cấp 4 cho bà Nguyễn Thị D, do là anh em con chú, con bác nên việc mua bán chuyển quyền sử dụng đất và giao nhận tiền hai bên không làm biên bản giấy tờ (hợp đồng miệng). Bà D đã nhận đất và sử dụng toàn bộ thửa đất từ năm 1985 và đã kê khai quyền sử dụng đất, dẫn đến bản đồ địa chính năm 1991 thửa đất 591 được tách thành hai thửa là thửa 80, 81 chuyển sang tên ông Phạm Văn M (chồng bà D) năm 1997 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên hộ ông Phạm Văn M. Theo điểm d khoản 2 mục 3 Nghị Quyết 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính Phủ và Điều 5; điều 53 Luật đất đai 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước giao cho nhân dân quản lý, sử dụng và không được mua, bán, hay được coi là di sản thừa kế. Người dân chỉ được định đoạt tài sản trên đất, tư liệu sản xuất, thu nhập hợp pháp.
Năm 1985, bà D nhận chuyển nhượng thửa đất số 591 trên đất có tài sản là 01 ngôi nhà xây cấp 4. Theo quy định tại điều 17 Luật đất đai 1987 thì người được nhận chuyển nhượng nhà để ở, được quyền sử dụng đất có ngôi nhà đó. Bà D, ông M nhận chuyển nhượng nhà ở bằng hợp đồng miệng, không có hợp đồng bằng văn bản theo quy định pháp luật nhưng hộ ông M đã sử dụng nhà và đất từ năm 1985, hàng năm kê khai đất đai tại địa phương, không có tranh chấp nên năm 1991 khi đo đạc lập bản đồ địa chính để làm căn cứ cấp giấy chứng nhận QSD đất cho toàn dân trong huyện T thì hộ ông M đã được cấp chứng nhận quyền sử dụng và ghi nhận trong hồ sơ địa chính và bản đồ địa chính xã T. Năm 1997, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông M là hoàn toàn phù hợp với quy định của điểm 1, 2 mục 4 Nghị Quyết 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính Phủ; Điều 48, 49 Luật đất đai 1987; Điều 2 Luật đất đai 1993. Từ các căn cứ trên HĐXX Căn cứ mục b tiểu mục 2.2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao, hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ 01/7/1980 đến trước ngày 15/10/1993: “Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thì Tòa án công nhận trong những trường hợp sau: Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm... không vi phamjquy định về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đát xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm...” Điều 236 BLDS năm 2015 về xác lập quyền sở hữu tài sản thì: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản; 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu đối với tài sản đó kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y đòi lại tài sản là diện tích 1700m² tại thửa số 591 tờ bản đồ lập năm 1986, nay là thửa số 80, 81 tờ bản đồ lập năm 1994 có địa chỉ tại xóm A thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
[3] Xem xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N đề nghị giải quyết buộc vợ chồng ông M phải trả lại 1/3 giá trị đất theo giá thị trường là 1.121.000.000 đồng. HĐXX xét thấy việc mua bán chuyển nhượng đất và tài sản trên đất giữa ông N và vợ chồng bà D là có thật. Hai bên thống nhất xác định về giá trị tài sản đã bán, bà D đã trả tiền mua tài sản cho ông N, ông N cũng đã nhận tiền của bà D. Đối với số tiền còn nợ, ông N trình bày bà D còn nợ 1/3 giá trị đất, bà D trình bày đã trả hết số tiền còn nợ cho bà Y là em ông N. Các bên không xuất trình được chứng cứ chứng minh. HĐXX không có căn cứ giải quyết trong vụ án này. Do vậy tách yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N đòi tài sản đối với số tiền bà D, ông M còn nợ để giải quyết thành vụ án khác khi có đủ căn cứ giải quyết.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh xác định quan hệ pháp luật, tư cách của những người tham gia tố tụng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dụng: Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã áp dụng quy định của Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tóm lại, những nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Y không có căn cứ chấp nhận. HĐXX quyết định không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngoài ra, ông N còn có đơn hoãn phiên tòa vì đã khiếu nại, kiến nghị đến các cấp lãnh đạo tỉnh, các cơ quan cấp huyện T và xã T. Những nội dung này không nằm trong phạm vi giải quyết vụ án nên HĐXX không chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
[6] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nhưng bà Nguyễn Thị Y thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Y được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND tỉnh Nam Định;
- - VKSND-TAND huyện Trực Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
- - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Mai Anh Tuấn |
|
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thành Công
Bùi Văn Biền |
Mai Anh Tuấn |
8
Bản án số 114/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 114/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Y - Phạm Văn M
