TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày: 15-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dương
2. Ông Bùi Quốc Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Ngọc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q - Sinh ngày 13/9/1994, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đ, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 181-QĐ/UBKTTU ngày 31/7/2024 của Ủy ban kiểm tra thị ủy N; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; con bà: Đỗ Thị T1, sinh năm 1974; Vợ: Dương Thị Thùy L, sinh năm 1999; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 10/5/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn T2 – Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Anh Ngô Ngọc Q1 – Sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Anh Phạm Huy H – Sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
- Anh Mai Xuân H1 – Sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn Q đã cho một số cá nhân vay tiền với lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự.
Quá trình điều tra đã xác định hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Nguyễn Văn Q, cụ thể như sau:
- Ngày 20/9/2022, Q cho anh Lê Văn T2, sinh năm 1975, trú tại thôn N, xã T, thị xã N vay 40.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 3.600.000 đồng/tháng; Q và anh T2 quy ước mỗi tháng tính 30 ngày (Q và anh T2 thống nhất tháng đầu tiên từ ngày 20/9/2022 đến ngày 20/10/2022 Q không lấy tiền lãi của anh T2). Từ ngày 20/10/2022 đến ngày 20/6/2023, anh T2 đã trả cho Q 08 tháng tiền lãi (240 ngày) với số tiền 28.800.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 5.260.274 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 23.539.726 đồng. Ngày 28/6/2023, anh T2 đã trả tiền nợ gốc cho Q.
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/10/2023 đến ngày 06/5/2024, Nguyễn Văn Q đã cho anh Ngô Ngọc Q1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N vay 02 lần tiền với lãi suất cao, gồm:
+ Ngày 19/10/2023, Q cho anh Q1 vay 150.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 13.500.000 đồng/tháng; Q và anh Q1 quy ước mỗi tháng tính 30 ngày. Từ ngày 19/10/2023 đến ngày 19/4/2024, anh Q1 phải trả cho Q 06 tháng tiền lãi (180 ngày) với số tiền 81.000.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 14.794.521 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 66.205.479 đồng. Anh Q1 đã trả cho Q 05 tháng tiền lãi (150 ngày) với số tiền 67.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 12.328.767 đồng và số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 55.171.233 đồng. Đến nay, anh Q1 chưa trả tiền nợ gốc cho Q.
+ Ngày 31/10/2023, Q cho anh Q1 vay 100.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 9.000.000 đồng/tháng; Q và anh Q1 quy ước mỗi tháng tính 30 ngày. Từ ngày 31/10/2023 đến ngày 30/4/2024, anh Q1 phải trả cho Q 06 tháng tiền lãi (180 ngày) với số tiền 54.000.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 9.863.014 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 44.136.986 đồng. Anh Q1 đã trả cho Q 05 tháng tiền lãi (150 ngày) với số tiền 45.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 8.219.178 đồng và số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 36.780.822 đồng. Đến nay, anh Q1 chưa trả tiền nợ gốc cho Q.
· Ngày 24/3/2023, Q cho anh Phạm Huy H, sinh năm 1999, trú tại thôn H, xã T, thị xã N vay 10.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 1.500.000 đồng/tháng; Q và anh H quy ước mỗi tháng tính 30 ngày. Từ ngày 24/3/2023 đến ngày 24/01/2024, anh H đã trả cho Q 10 tháng tiền lãi (300 ngày) với số tiền 15.000.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 182,5%/năm, cao gấp 9,125 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 1.643.836 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 13.356.164 đồng. Ngày 24/01/2024 anh H đã trả tiền nợ gốc cho Q.
- Ngày 28/3/2023, Q cho anh Mai Xuân H1, sinh năm 1991, trú tại thôn H, xã T, thị xã N vay 10.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 1.500.000 đồng/tháng; Q và anh H1 quy ước mỗi tháng tính 30 ngày. Từ ngày 28/3/2023 đến ngày 28/7/2023, anh H1 đã trả cho Q 04 tháng tiền lãi (120 ngày) với số tiền 6.000.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 182,5%/năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 657.534 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính được xác định là 5.342.466 đồng. Ngày 28/7/2023, anh H1 đã trả tiền nợ gốc cho Q.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn Q đã cho 04 cá nhân vay 05 lần tiền, tổng số tiền Q sử dụng cho vay là 310.000.000 đồng, với lãi suất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, cao hơn từ 5,475 lần đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi 04 người vay trên phải trả cho Q là 184.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 32.219.178 đồng, số tiền Q sẽ thu lợi bất chính là 152.580.822 đồng. Đến thời điểm bị phát hiện (ngày 06/5/2024), Q thu được số tiền lãi là 162.300.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 28.109.589 số tiền Q đã thu lợi bất chính là 134.190.411 đồng. Cho đến nay, anh Lê Văn T2, Phạm Huy H và Mai Xuân H1 đã trả tiền nợ gốc 60.000.000 đồng cho Q, riêng anh Ngô Ngọc Q1 chưa trả tiền nợ gốc 250.000.000 đồng.
Ngày 06/5/2024, Nguyễn Văn Q biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên tự nguyện đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai báo về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để thu lợi bất chính của bản thân.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai báo hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Ngoài các lần cho vay tiền với lãi suất cao nêu trên, quá trình điều tra còn xác định, trước đó vào ngày 19/10/2022, Nguyễn Văn Q cho anh Phạm Huy H vay số tiền 10.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận là 1.500.000 đồng/tháng. Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 19/01/2023, anh H đã trả cho Q 03 tháng tiền lãi (90 ngày) với số tiền 4.500.000 đồng, tương ứng lãi suất vay 182,5%/năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Trong đó, số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 493.150 đồng, số tiền Q thu lợi bất chính là 4.006.850 đồng. Tuy nhiên khoản vay này tính đến thời điểm Q ra đầu thú (ngày 06/5/2024) đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, nên Q không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay lãi nặng này.
Tại Bản cáo trạng số 124/CT-VKSNS ngày 17/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 47 và điều 65 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn Q 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 đến 24 tháng; Phạt bổ sung Nguyễn Văn Q 30.000.000đ. Không xem xét phần bồi thường; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 88.109.589 đồng do bị cáo Q giao nộp, 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu vàng, số máy A2161, số I: 353901109969453, số I: 353901109510679. Kèm theo 01 SIM điện thoại có ghi 8984048000383342036 và 01 điện thoại di động S Fold 4, tên kiểm thiết bị: SM-F936B/DS, có Imeil: 351843261837445, Imei2: 352898471837444. Kèm theo 02 SIM điện thoại có ghi: 8984048000063500067 và 8984048000903306658. Truy thu của Ngô Ngọc Q1 250.000.000 để nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên tòa Nguyễn Văn Q đã khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trong khoảng thời gian từ ngày 20/9/2022 đến ngày 31/10/2023, Nguyễn Văn Q đã có hành vi cho 04 cá nhân trên địa bàn thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, gồm anh Lê Văn T2, sinh năm 1975, trú tại thôn N, xã T; anh Ngô Ngọc Q1, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố H, phường T; anh Phạm Huy H, sinh năm 1999 và anh Mai Xuân H1, sinh năm 1991 cùng trú tại Thôn H, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vay tổng cộng số tiền 310.000.000 đồng, với lãi suất từ 109,5%/năm đến 182,5%/năm, cao hơn từ 5,475 lần đến 9,125 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi người vay phải trả cho Q là 184.800.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 32.219.178 đồng, số tiền Q sẽ thu lợi bất chính là 152.580.822 đồng. Đến thời điểm bị phát hiện (ngày 06/5/2024), Q thu được số tiền lãi là 162.300.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Q được thu theo quy định là 28.109.589 số tiền Q đã thu lợi bất chính là 134.190.411 đồng. Cho đến nay, anh Lê Văn T2, anh Phạm Huy H và anh Mai Xuân H1 đã trả số tiền nợ gốc 60.000.000 đồng cho Q, anh Ngô Ngọc Q1 chưa trả tiền nợ gốc 250.000.000 cho Q.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N, tình trạng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế về hoạt động cho vay trong giao dịch dân sự được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay tài sản. Mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, nhưng vì ham lợi nên bị cáo đã cho người khác vay để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất quy định. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, ra đầu thú, bị cáo đã cứu sống được 01 cháu bé bị đuối nước và tham gia nghĩa vụ quân sự, được tặng thưởng danh hiệu chiến sỹ tiên tiến. Do đó bị cáo được áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Do đó, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Cần phải áp dụng khoản 3 Điều 201 của BLHS, để phạt bị bị cáo 01 khoản tiền nhất định để nộp và ngân sách Nhà nước.
[6] Xét về phần vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền số tiền 88.109.589 đồng (hiện đang tạm gửi tại kho bạc nhà nước N1 theo biên bản giao nhận tài sản số 22/2024/BBBG-KBNS ngày 15/7/2024), gồm: 60.000.000 đồng tiền gốc mà anh Lê Văn T2, anh Phạm Huy H, anh Mai Xuân H1 vay đã trả cho Q, đây là số tiền bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội và 28.109.589 đồng tiền lãi suất 20%/năm là tiền do phạm tội mà có, nên cần phải căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; để tịch thu nộp ngân sác nhà nước.
- Đối với số tiền 250.000.000 đồng tiền gốc mà Ngô Ngọc Q1 chưa trả cho bị cáo Q, đây là số tiền bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần phải căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; để truy thu số tiền trên của anh Ngô Ngọc Q1 để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính: Quá trình điều tra bị cáo Q đã hoàn trả tiền thu lợi bất chính cho anh T2 23.539.726 đồng, hoàn trả tiền thu lợi bất chính cho anh Q1 91.952.055 đồng, hoàn trả tiền thu lợi bất chính cho anh H 13.356.164 đồng, hoàn trả tiền thu lợi bất chính cho anh H1 5.342.466 đồng. Anh T3, anh Q1, anh H và anh H1 không yêu cầu bị cáo Q phải trả thêm khoản nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu vàng, số máy A2161, số Imei1: 353901109969453, số I: 353901109510679. Kèm theo 01 SIM điện thoại có ghi 8984048000383342036 và 01 điện thoại di động S Fold 4, tên kiểm thiết bị: SM-F936B/DS, có Imeil: 351843261837445, Imei2: 352898471837444. Kèm theo 02 SIM điện thoại có ghi: 8984048000063500067 và 8984048000903306658, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/105 Ngày 18/7/2024. 02 chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 47 và điều 65 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Nguyễn Văn Q phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/8/2024. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo mà thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt Nguyễn Văn Q 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 88.109.589 đồng, hiện đang tạm gửi tại kho bạc nhà nước Nghi Sơn theo biên bản giao nhận tài sản số 22/2024/BBBG-KBNS ngày 15/7/2024.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 11 promax màu vàng, số máy A2161, số Imeil: 353901109969453, số I: 353901109510679. Kèm theo 01 SIM điện thoại có ghi 8984048000383342036 và 01 điện thoại di động S Fold 4, tên kiểm thiết bị: SM-F936B/DS, có Imeil: 351843261837445, Imei2: 352898471837444. Kèm theo 02 SIM điện thoại có ghi: 8984048000063500067 và 8984048000903306658, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/105 Ngày 18/7/2024.
- + Truy thu của anh Ngô Ngọc Q1 số tiền 250.000.000đ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Bắc |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn Q cho 4 cá nhân vay 310.000.000đ với lãi suất từ 109,5 đến 182,5 % /năm, Q đã thu lợi bất chính 134.190411 đ
