Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2023/DS-ST

Ngày 15-8-2023

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh.

2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 947/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2537/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Q (V1)

Trụ sở: Tầng A và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/11/2022)

  • 1/ Ông Nguyễn Trường C;
  • 2/ Ông Nguyễn Ngọc T;
  • 3/ Ông Lê Thanh Nguyễn Lâm .

Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, Ung Văn K, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lê Đức X, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Tổ F, khu phố C, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai

(Ông T có mặt, các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (viết tắt là V1) – P đã ký với ông Lê Đức X Hợp đồng tín dụng số 2018.1256.HĐTD.659 ngày 06/11/2018, với nội dung: Số tiền giải ngân: 340.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi triệu đồng). Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI ATTRAGE; Thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày 07/11/2018 đến ngày 06/11/2026; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,99 %/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 4.09% /năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 06 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.09 %/ năm;

Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 06, kỷ trả đầu ngày 06/12/2018; Số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ 3.542.000 đồng, S còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 06, Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

V1 đã giải ngân cho ông Lê Đức X theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 2018.1256.KUNN.659 ngày 06/11/2018 với số tiền 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng) theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Lê Đức X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 15/8/2023, ông Lê Đức X đã thanh toán cho V1 số tiền là 202.027.998 đồng (trong đó: nợ gốc là: 113.344.055 đồng, nợ lãi là: 88.683.943 đồng).

Tạm tính đến ngày 15/8/2023, ông Lê Đức X còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 316.697.898 đồng (Ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là: 226.655.945 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là: 90.041.953 đồng (Chín mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng).

VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

+ Buộc Khách hàng trả ngay cho VIB số tiền tạm tính đến ngày 15/8/2023 là: 316.697.898 đồng (Ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là: 226.655.945 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là: 90.041.953 đồng (Chín mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng).

+ Đề nghị Quý Tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 16/8/2023 cho đến khi Khách hàng thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.

Về chi phí tố tụng: Yêu cầu tòa án tuyên buộc phía bị đơn phải chịu toàn bộ theo quy định tại Bản điều khoản và điều kiện cấp tín dụng mà các bên đã ký kết.

* Bị đơn ông Lê Đức X đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Lê Đức X có địa chỉ cư trú cuối cùng tại tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho bị đơn trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Đức X thanh toán tiền còn nợ đối với hợp đồng tín dụng, nên quan hệ pháp luật được xác định là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngày 06/11/2018, ông Lê Đức X có ký hợp đồng tín dụng số 18.1256.HĐTD.659 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q để vay số tiền: 340.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bốn mươi triệu đồng). Mục đích giải ngân: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI ATTRAGE; Thời hạn vay: 96 tháng, từ ngày 07/11/2018 đến ngày 06/11/2026; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,99 %/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 4.09%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 06 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.09 %/năm; Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 06, kỳ trả đầu ngày 06/12/2018; Số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ 3.542.000 đồng, S còn lại trả vào cuối kỳ; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 06, Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ Lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn.

Thực hiện hợp đồng, ông X đã nhận đủ số tiền 340.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu đồng) thể hiện tại Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2018.1256.KUNN.659 ngày 06/11/2018. Tính đến ngày 15/8/2023 ông X đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền tiền là 202.027.998 đồng (trong đó: gốc là: 113.344.055 đồng, lãi là: 88.683.943 đồng).

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông X trả cho ngân hàng số tiền (tạm tính đến ngày 15/8/2023) 316.697.898 đồng (Ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là: 226.655.945 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là: 90.041.953 đồng (Chín mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng).

Yêu cầu Tòa án buộc bị đơn tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 16/8/2023 cho đến khi ông Lê Đức X thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký số 2018.1256.HĐTD.659 ngày 06/11/2018.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cố tình vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền tự chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên Hội đồng xét xử chỉ căn cứ trên các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như Hợp đồng tín dụng, đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ được ký kết giữa các bên thì việc khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn ông lê Đức X1 phải trả số tiền còn nợ là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, căn cứ Điều 688, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Lê Đức X có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn nợ là: 316.697.898 đồng (Ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là: 226.655.945 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là: 90.041.953 đồng (Chín mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng).

[5] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) theo bản Điều khoản và Điều kiện cấp tín dụng mà các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị đơn ông X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 688, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

    Buộc ông Lê Đức X có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền: 316.697.898 đồng (Ba trăm mười sáu triệu, sáu trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là: 226.655.945 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, chín trăm bốn mươi lăm đồng), nợ lãi là: 90.041.953 đồng (Chín mươi triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, chín trăm năm mươi ba đồng).

    Kể từ ngày 16/8/2023, ông X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2018.1256.HĐTD.659 ngày 06/11/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn ông Lê Đức X phải chịu 15.835.000 đồng (Mười lăm triệu, tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.978.000 đồng (Năm triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005478 ngày 12/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Đức X phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Ông Lê Đức X có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

  5. Về việc thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hoà;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thúy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thái Hòa Huỳnh Thị Kim K1

Trần Thị T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 114/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TMCP Quốc tế - Xuân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger