|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 114/2024/DS-PT
Ngày 15 - 5 - 2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán:
Ông Trần Bá Kha
Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Trần Cẩm H, sinh năm 1963 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị P (tên thường gọi là P1), sinh năm 1960 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số nhà A, tổ B, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Cẩm H và bà Nguyễn Thị P: Luật Sư Lại Hùng A - Văn phòng L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh K (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn P2, sinh năm 1946; địa chỉ: Số nhà A, tổ B, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Ngọc T1 (Ngọc X), sinh năm 1955; địa chỉ: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Ông Trần Bá Đ, sinh năm 1953; địa chỉ: Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Ngọc T2, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1943; địa chỉ: ấp B, xã L, quận B, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Trần Cẩm T4, sinh năm 1965 (con ông Trần Văn K); địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Cẩm L, sinh năm 1970 (con ông Trần Văn K); địa chỉ: số A, khóm A, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Cẩm H1, sinh năm 1968 (con ông Trần Văn K); địa chỉ: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1952; địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Cẩm C (đã chết).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Cẩm C gồm có:
- Ông Ngô X1, sinh năm 1951 (chồng bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Cẩm C là anh Ngô H2, sinh năm 1976 (con bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Trần Cẩm C là chị Ngô Thị T5, sinh năm 1978; (con bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Ngô S, sinh năm 1980; (con bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Ngô Hòa Q, sinh năm 1983; (con bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Chị Ngô Thị H3, sinh năm 1987 (con bà Trần Cẩm C); địa chỉ: Khu Phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Cẩm H4 - nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Cẩm H và bà Nguyễn Thị P trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp giữa vợ chồng ông với ông P2 trước đây là của dì ruột là bà Thái Thị H5 cho ông bà N là ông Thái Văn N1, bà Huỳnh Thị K1 và cha mẹ ruột là ông Trần Văn H6, bà Thái Thị T6 mượn ở nhờ từ trước năm 1968, sinh sống đến năm 1968 thì gia đình tản cư về xóm L thuộc khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, ở được vài năm đến năm 1971 thì bà ngoại và cha mẹ trở về nền đất của bà Thái Thị H5 mượn cất nhà ở (tiếp tục mượn đất của bà H5 ở), thời điểm trở về đất của bà H5 thì cất lại 01 căn nhà lúc đó có bà N, cha mẹ, ông H, 03 người chị em gái và anh trai ông Đ ở chung trong một căn nhà; riêng ông P2 do có gia đình ở riêng bên vợ thuộc ấp V, thị trấn V, huyện V. Đến 1988 ông bà mua đất của bà H5 01 phần đất ngang 30m, dài từ mé lộ tới Lung khoảng 25m, đất tại ấp R, xã V (nay là khu phố V, thị trấn V, huyện V), bán không có làm giấy tờ gì, giá là 30 giạ lúa, trong đó ông có đông cho bà H5 20 giạ lúa, còn ông Đ có đông cho bà H5 10 giạ lúa để nhận phần đất mé sông cất nhà ở (phần ông Đ ở hiện nay vợ chồng ông không tranh chấp). Ông bà xác định cha mẹ không có chuyển nhượng đất của bà H5.
Năm 1990 ông P2 về hỏi cha mẹ, vợ chồng ông bà cất nhà ở nên vợ chồng ông bà và cha mẹ đồng ý cho ông P2 mượn đất cất nhà ở, việc cho mượn đất không có làm giấy tờ gì. Nay vợ chồng ông bà yêu cầu ông P2 tháo dở nhà trả đất cho ông bà, phần đất phía trước ngang giáp lộ là 9,6m; phía trong hậu ngang giáp đất của vợ chồng ông bà là 7,5m; dài giáp đất ông C1 36,91m; cạnh dài giáp đất 01 mét ngang ông P2 trả cho vợ chồng ông bà là 36,30m.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông P2 yêu cầu công nhận diện tích 313m² cho ông P2 được sử dụng thì vợ chồng ông bà không đồng ý, lý do đất trên là của vợ chồng ông, bà. Vợ chồng ông bà thống nhất bồi thường giá trị căn nhà cho ông P2 theo kết quả định giá với số tiền là 315.160.000 đồng, ông bà không thống nhất bồi thường công sức cải tạo số tiền là 960.000.000 đồng cho ông P2.
* Bị đơn ông Trần Văn P2 trình bày:
Năm 1958 cha mẹ của ông là Trần Văn H6, bà Thái Thị T6 chung sống với ông bà ngoại là ông Thái Văn N1 và bà Huỳnh Thị K1 tại ấp C, xã V cũ (nay xã P), huyện V. Thời kỳ Ngô đình Diệm 1958 dồn dân để lập ấp nên gia đình tảng cư về ấp R, xã V (nay là V, thị trấn V) ở nhờ trên phần đất của bà Thái Thị H5 (bà H5 là Dì ruột của ông) hỏi mượn đất cất 02 cái nhà (mỗi nhà 03 căn), nhà ông bà N cất 01 cái nhà 03 căn nhà kê, vách váng, cha mẹ ông cất 01 cái nhà 03 căn vách lá, thời gian này chưa có ông H (ông H chưa được sinh ra). Năm 1968 do giặc giã bắn nhau không ở được nên ông bà ngoại và cha mẹ ông tháo dở 02 căn nhà trên tảng cư sang phần đất của ông Nguyễn Phước G (ông Lân M) ở nhờ thuộc ấp V, xã V củ (nay là V, thị trấn V). Tháng 02/1971 gia đình bà ngoại và cha mẹ ông trở về phần đất của bà H5 tiếp tục hỏi mượn đất cất nhà ở (cất 01 nền nhà 03 căn), bà ngoại về ở chung với cha mẹ và ông H để thờ cúng ông ngoại (ông N là ông N1 chết 1965).
Tháng 02/1977 ông về ấp C sinh sống để giữ lại phần đất của ông bà cha mẹ nếu không ở thì người khác sử dụng đất nên ông sống ở C.
Khoảng năm 1988 cha mẹ có đông 20 giạ lúa cho bà H5, ông Đ (em ông) đông 10 giạ lúa cho bà H5. Lý do cha mẹ ông và ông Đ đông lúa cho bà H5 tổng cộng là 30 giạ lúa và sau này bà H5, các con cháu của bà H5 không ai được quyền lấy lại phần đất này, bà H5 chỉ nhận 30 giạ lúa từ cha mẹ ông và ông Đ thì bà H5 giao cho cha mẹ ông phần đất thổ cư mé sông, trên lộ và phần đất phía trong là đất vườn cho cha mẹ ông sử dụng luôn, phần giáp lộ khoảng 28m - 29m tính từ ranh đất bà H7 tới ranh đất ông C1. Ông xác định năm 1988 bà H5 không có chuyển nhượng đất nào cho ông H. Việc bà H5 nhận 30 giạ lúa không có làm giấy tờ gì, bà H5 giao đất cho cha mẹ ông cũng không có làm giấy tờ gì.
Đến khoảng tháng 02 năm 1990 cha mẹ ông cho ông 01 nền nhà để vợ chồng các con ông ở, cho không có làm giấy tờ gì nhưng có các chị em ông là bà C, bà T1, ông Đ, ông H, bà T2 đều biết, phần đất chiều ngang khoảng 10m, chiều dài từ lộ tới cái đìa (hiện nay cái đìa đã lấp), giáp ranh đất ông Nguyễn Văn C2 trở qua, đất tại ấp R, xã V cũ (nay là khu phố V, thị trấn V), khi cho không có đo đạc thực tế. Sau khi được cho đất ông tiến hành cất nhà kê cột cây, có xây mặt gió bằng tường phía trước, khi đó ông H vẫn thống nhất không phải đối gì, ông sử dụng đến tháng 09 năm 2017 cất nhà lại loại cấp 4 lúc này ông H có nói với ông chừa lại 01 mét ngang, dài từ lộ trở vào khoảng 36m để làm lối đi chung, ông đồng ý nên khi cất nhà ông đã chừa lại 01m ngang, từ đó đến nay bên ông H tiến hành sử dụng trồng rau, trồng cây, đặt ống dẫn nước sử dụng.
Nay ông không đồng ý tháo dỡ nhà trả đất, đối với yêu cầu phản tố ông yêu cầu công nhận cho ông QSD đất có diện tích 313m², đất tại khu phố V, thị trấn V. Trong trường hợp không công nhận được ông yêu cầu bồi hoàn công sức cải tạo từ năm 1990 cho đến nay là 960.000.000 đồng (mỗi năm bằng 30.000.000 đồng trong thời gian 32 năm) và giá trị căn nhà theo kết quả định giá hiện nay là 315.160.000 đồng. Tại đơn phản tố có yêu cầu giá trị căn nhà là 565.000.000 đồng nhưng nay có ý kiến theo định giá là 315.160.000 đồng. Đối với các cây trồng trên đất ông không yêu cầu bồi hoàn gì.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ1 trình bày:
Bà thống nhất với kiến của ông P2 trình bày nêu trên, đất trên là của cha mẹ chồng cho vợ chồng ông bà năm 1990, sau khi được cho đất vợ chồng bà tiến hành cất nhà kê cột cây, có xây mặt gió bằng tường phía trước, khi đó ông H vẫn thống nhất không phải đối gì, đến tháng 9/2017 cất nhà lại loại cấp 4 ông H đồng ý không tranh chấp gì, nay bà không đồng ý tháo dỡ nhà trả đất cho ông H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc T1 trình bày: Bà hiểu biết trước đây lúc bà H5 có kêu cha mẹ bà đông cho dì Tư Hoài 30 giạ lúa để sau này các con cháu của bà H5 không tranh chấp đòi lại phần đất này, cha mẹ bà có đông số lúa trên cho dì Tư Hoài để nhận phần đất này. Thời điểm năm 1990 cha mẹ bà kêu ông P2 về cho luôn 01 nền nhà để cất nhà sử dụng thuận tiện cho các con đi học và ở gần cha mẹ, cho từ mé sông trở lên nhưng phần mé sông ông H lấy lại rồi, bà xác định bà H5 không có chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông H. Nay bà có ý kiến yêu cầu Toà án xem xét phần đất tranh chấp nói trên tiếp tục cho ông P2 được sử dụng, công nhận đất trên cho ông P2 vì ông P2 đã sử dụng trên 30 năm nay, bà không tranh chấp gì trong vụ kiện này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc T2 trình bày: Về nguồn gốc đất trước đây là của bà H5 cho cha mẹ bà 01 phần đất, cho không làm giấy tờ, cha mẹ bà cất nhà sinh sống cùng với các anh em bà sinh sống với cha mẹ tại đó. Năm 1990 cha mẹ bà có kêu ông P2 cho luôn 01 phần đất để cất nhà ở, không làm giấy tờ gì, ông P2 cất nhà sử dụng ổn định hơn 30 năm, việc ông H yêu cầu trả đất là không đúng.
* Ông Trần Bá Đ, ông Trần Cẩm T4, bà Trần Cẩm L, bà Trần Cẩm H1, ông Ngô X1, anh Ngô H2, chị Ngô Thị T5, anh Ngô S, anh Ngô Hòa Q, chị Ngô Thị H3 vắng mặt không có lời trình bày tại phiên tòa.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Trần Cấm H, bà Nguyễn Thị P đối với bị đơn ông Trần Văn P2 về việc yêu cầu tháo dỡ nhà trả diện tích đất là 313,0m² (ODT + CLN), bản đồ 01, thửa 02, trong tổng diện tích chung 1.830m², đất toạ lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn P2 đối với nguyên đơn ông Trần Cấm H, bà Nguyễn Thị P về việc công nhận QSD đất diện tích là 313,0m², đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích là 313m² (ODT + CLN), bản đồ 01, thửa 02, đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, có vị trí tứ cạnh như sau:
Cạnh 5, 7 giáp đường P ngan 9,6m;
Cạnh 6, 8 giáp đất ông Trần Cấm H 7,5m;
Cạnh 7, 8 giáp đất ông Nguyễn Văn C2 36,91m;
Cạnh 5,6 giáp phần đất 01m ngang ông P2 đã chừa lại làm lối đi chung, ông H xác định đã trả cho ông là 36,38m.
(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 215-2021 ngày 14/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V).
Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn quyết định chi phí tố tụng về án phí và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm.
Ngày 02 tháng 11 năm 2024 nguyên đơn ông Trần Cẩm H có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Yêu cầu cấp phúc thẩm xử sửa Bản án nói trên theo hướng như sau:
Ông H yêu cầu cấp phúc thẩm xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Văn P2 và những người ở trên phần đất đó phải trả lại phần đất có diện tích là 313m² (ngang giáp lộ đường P 9,6m, ngang giáp đất ông H 36,38m, tọa lạc tại khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Còn phần căn nhà hai bên thống nhất theo giá trị định giá của Công ty TNHH MTV B số tiền là 315.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Trần Cẩm H đồng ý giao cho bị đơn ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích đất 313m² (ODT + CLN), tờ bản đồ số 01, thửa số 02, đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang, có vị trí tứ cạnh như sau:
Cạnh 5, 7 giáp đường P ngan 9,6m;
Cạnh 6, 8 giáp đất ông Trần Cấm H 7,5m;
Cạnh 7, 8 giáp đất ông Nguyễn Văn C2 36,91m;
Cạnh 5,6 giáp phần đất 01m ngang ông P2 đã chừa lại làm lối đi chung, ông H xác định đã trả cho ông là 36,38m.
(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 215-2021 ngày 14/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang) và ông H đồng ý khi án có hiệu lực ông H có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đứng tên cho ông P2 làm thủ tục tách phần đất tranh chấp cho ông P2.
Về chi phí tách giấy chứng nhận QSD đất ông P2 tự nguyện chịu chi phí này. Nhưng với điều kiện ông P2 phải trả cho ông số tiền là 50.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Trần Văn P2 đồng ý theo yêu cầu của H và đồng ý hỗ trợ cho ông H số tiền là 50.000.000 đồng.
Luật sư Lại Hùng A yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Cẩm H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, theo hướng công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét về thủ tục tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Cấm H về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Trần Cấm H và ông Trần Văn P2 đã tự nguyện thỏa thuận với nhau như sau: Ông H đồng ý giao cho ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích đất 313m² (ODT + CLN), theo tờ bản đồ số 01, thửa số 02, đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 215-2021 ngày 14/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang) và ông H đồng ý khi án có hiệu lực ông H sẽ có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đứng tên cho ông P2 làm thủ tục tách phần đất tranh chấp nói trên cho ông P2 đứng tên. Về chi phí tách giấy chứng nhận QSD đất ông P2 tự nguyện chịu chi phí này. ông P2 tự nguyện hỗ trợ cho ông H số tiền là 50.000.000 đồng.
[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận này là sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Từ những nhận định nêu trên trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Cẩm H; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, theo hướng công nhận sự tự nguyện của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
Ông Trần Cấm H đồng ý giao cho ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích đất là 313m² (ODT + CLN), theo tờ bản đồ số 01, thửa số 02, trong tổng diện tích chung 1.830 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ A00121 QSDĐ/VT do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Trần Cấm H đứng tên ngày 01/8/1990, với tổng diện tích chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7.030m². Đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Đất của ông P2 được sử dụng có vị trí tứ cạnh như sau:
Cạnh 5, 7 giáp đường P ngang 9,6m;
Cạnh 6, 8 giáp đất ông Trần Cấm H 7,5m;
Cạnh 7, 8 giáp đất ông Nguyễn Văn C2 36,91m;
Cạnh 5,6 giáp phần đất 01m ngang ông P2 đã chừa lại làm lối đi chung, ông H xác định đã trả cho ông là 36,38m.
(Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 215-2021 ngày 14/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang) và ông H đồng ý khi án có hiệu lực ông H sẽ có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đứng tên cho ông P2 làm thủ tục tách phần đất tranh chấp nói trên cho ông P2 đứng tên. Về chi phí tách giấy chứng nhận QSD đất ông P2 tự nguyện chịu chi phí này. Ông P2 tự nguyện hỗ trợ cho ông Trần Cấm H và bà Nguyễn Thị P số tiền là 50.000.000 đồng.
Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án như đã thỏa thuận thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án.
[4] Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.450.000 đồng theo hoá đơn thuế giá trị gia tăng ngày 15/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V và chi phí định giá là 5.000.000 đồng theo hoá đơn bán hàng ngày 28/02/2022 của công ty TNHH MTB BĐS Đất vàng Kiên Giang. Vợ chồng ông H, bà P chịu toàn bộ, nguyên đơn đã nộp xong.
[5] Về án phí:
[5.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn vợ chồng ông H, bà P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đối với yêu cầu tranh chấp QSD đất không được Tòa án chấp nhận và chịu án phí đối với yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận là 300.000 đồng, tổng cộng án phí phải chịu là 600.000 đồng nhưng do vợ chồng ông H, bà P là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được xét miễn theo quy định.
Hoàn trả cho ông H, bà P số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
[5.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí theo quy đinh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Cấm H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 203 của Luật đất đai; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2005; Áp dụng Điều 6, Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
- Ông Trần Cẩm H đồng ý giao cho ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích đất là 313m² (ODT + CLN), theo tờ bản đồ số 01, thửa số 02, trong tổng diện tích chung 1.830m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ A00121 QSDĐ/VT do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Trần Cấm H đứng tên ngày 01/8/1990, với tổng diện tích chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7.030m². Đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Đất của ông P2 được sử dụng có vị trí tứ cạnh như sau:
Cạnh 5, 7 giáp đường P ngan 9,6m;
Cạnh 6, 8 giáp đất ông Trần Cấm H 7,5m;
Cạnh 7, 8 giáp đất ông Nguyễn Văn C2 36,91m.
Cạnh 5,6 giáp phần đất 01m ngang ông P2 đã chừa lại làm lối đi chung, ông H xác định đã trả cho ông là 36,38m. (Vị trí khu đất, độ dài các cạnh tại các vị trí giáp ranh, các hướng giáp ranh được mô tả chi tiết theo tờ trích đo địa chính số: TĐ 215-2021 ngày 14/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V, tỉnh Kiên Giang).
Khi án có hiệu lực pháp luật ông H sẽ có trách nhiệm giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H đứng tên nói trên cho ông P2 làm thủ tục tách phần đất tranh chấp diện tích là 313m² cho ông P2 đứng tên. Về chi phí tách giấy chứng nhận QSD đất ông P2 tư nguyện chịu chi phí này.
Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, tách thửa, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai.
- Ông Trần Văn P2 tự nguyện hỗ trợ cho ông Trần Cấm H và bà Nguyễn Thị P số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án như đã thỏa thuận thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
- Ông Trần Cẩm H đồng ý giao cho ông Trần Văn P2 được quyền sử dụng diện tích đất là 313m² (ODT + CLN), theo tờ bản đồ số 01, thửa số 02, trong tổng diện tích chung 1.830m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ A00121 QSDĐ/VT do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Trần Cấm H đứng tên ngày 01/8/1990, với tổng diện tích chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7.030m². Đất tọa lạc tại Khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Đất của ông P2 được sử dụng có vị trí tứ cạnh như sau:
- Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 1.450.000 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) theo hóa đơn thuế giá trị gia tăng ngày 15/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V và chi phí định giá là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo hóa đơn bán hàng ngày 28/02/2022 của công ty TNHH MTV B. Vợ chồng nguyên đơn ông Trần Cấm H, bà Nguyễn Thị P chịu toàn bộ chi phí này, nguyên đơn đã nộp xong.
- Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn vợ chồng ông Trần Cấm H, bà Nguyễn Thị P là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được xét miễn án phí theo quy định.
Hoàn trả cho ông Trần Cấm H, bà Nguyễn Thị P số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) the o biên lai thu số 0004056 ngày 29/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (do ông Trần Cấm H nộp).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Cấm H là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 114/2024/DS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 114/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông H tranh chấp qsd đất với ông P
