TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE Bản án số: 114/2024/HNGĐ - ST Ngày: 15/4/2024. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Ngọc Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hơn.
- Ông Đoàn Kim Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Hà Ngọc D - Sinh năm: 1995; địa chỉ: 7 ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Anh Lê Thanh T - Sinh năm: 1993; địa chỉ: 7 ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Năm 2019, chị Hà Ngọc D và anh Lê Thanh T có tiến đến hôn nhân, hôn nhân giữa anh chị là tự nguyện. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 08/10/2019.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân là do có nhiều bất đồng quan điểm, anh chị thường xảy ra cãi vã, anh T nghi ngờ chị không chung thủy và anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay.
Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn, không thể hàn gắn để đoàn tụ. Vì vậy, chị D yêu cầu ly hôn với anh T. Chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Lê Tấn P - Sinh ngày 12/10/2019. Sau khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng 1.000.000đồng/tháng.
Từ khi sống ly thân đến nay thì chị để con cho anh T nuôi, cuối tuần không có đi làm thì chị đều đến thăm và rước con về nhà ngoại chơi.
Hiện tại chị làm công nhân may của Công ty M ở xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Lương hàng tháng từ 5 - 6 triệu đồng. Về thời gian đi làm của chị là từ 7 giờ 30 phút sáng đến 16g 30 (không tăng ca) và đến 18g 30 (có tăng ca).
Về tài sản, về nợ: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, thời gian sống chung hạnh phúc, về con chung và về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì anh đồng ý với lời trình bày của vợ anh là chị D.
Cho rằng tình cảm vợ chồng là không còn nên trước yêu cầu ly hôn của chị D thì anh đồng ý. Anh không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Lê Tấn P - Sinh ngày 12/10/2019. Hiện con đang sống với anh. Sau khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con mà không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Từ khi sống ly thân đến nay thì chị D để con cho anh nuôi. Chị D có đến thăm con và có rước con về ngoại chơi được 01 lần. Thời gian gần đây cháu có bị bệnh và phải nhập viện ở Bệnh viện C. Anh có báo cho chị D nhưng cuối ngày chị D mới đến được với lý do Công ty không cho nghĩ.
Hiện tại anh phụ nuôi gà (gà đá) và mua bán gà tại địa phương. L từ việc nuôi gà là 300.000đồng/ngày. Ngoài ra anh còn mua bán gà tại nhà thu nhập không ổn định. Về thời gian đi làm của anh là từ 7 giờ sáng đến 13 giờ là hết việc và về nhà nuôi gà của bản thân mình.
Về tài sản, về nợ: Không có.
Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn của chị D và anh T.
Về con chung: Giao cháu Lê Tấn P - Sinh ngày 12/10/2019 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.
Buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng từ ngày tuyên án cho đến khi con tròn 18 tuổi.
* Về tài sản, về nợ: Chị D, anh T khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do các bên tranh chấp và nguyên đơn có đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị PHà Ngọc D1 và anh Lê Thanh T là tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 08/10/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc một thời gian thì đời sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn và anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay.
Trong thời gian sống ly thân, giữa anh chị không có sự quan tâm đến nhau
mà mạnh ai nấy sống. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh chị thống nhất ly hôn. Do vậy, cần chấp nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh chị là phù hợp.
Ghi nhận việc anh chị không yêu cầu dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
[3] Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Lê Tấn P - Sinh ngày 12/10/2019. Hiện tại con đang sống với anh T.
Trong quá trình giải quyết vụ án cả chị D1 và anh T đều có nguyện vọng được nuôi con sau khi ly hôn.
Tại phiên tòa, các đương sự thống nhất bản thân anh chị đều có điều kiện và khả năng nuôi con. Xét thấy, từ khi ly thân cháu Lê Tấn P sống với anh T và bản thân anh cũng có điều kiện, thời gian chăm sóc con hơn chị D1. Do vậy, cần giao con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Ghi nhận việc anh T không yêu cầu chị D1 cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản, về nợ: Ghi nhận việc chị D1, anh T khai không có.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chỉ được chấp nhận một phần.
[6] Về án phí: Các đương sự phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 119 của Luật hôn nhân và gia đình;
Các điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hà Ngọc D và anh Lê Thanh T (chị D được ly hôn với anh T).
Ghi nhận việc anh chị không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Tấn P - Sinh ngày 12/10/2019 cho anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại con đang sống với anh T.
Ghi nhận việc anh T không yêu cầu chị D2 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung cha, mẹ hoặc cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản, về nợ: Ghi nhận việc chị D, anh T khai không có.
4. Về án phí sơ thẩm: Ghi nhận việc nguyên đơn tự nguyện nộp 150.000đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001460 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chênh lệch sau khi khấu trừ là 150.000đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Ngọc Tú |
Bản án số 114/2024/HNGĐ - ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 114/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tòa án xét xử và chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
