trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIẢNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và ông Nguyễn Quang Miên

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2024/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐ-HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Bùi Lâm H, sinh năm 2004; tên gọi khác không; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn F, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Bùi Văn C năm 1983 và bà Vi Thị P, sinh năm 1986; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2024 đến ngày 12/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H15; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 2004. Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyênvắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn T năm 1981
  2. Ông Nguyễn Văn T1 năm 1967

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Lâm H1 lao động tự do. Ngày 07/10/2024, H2 anh Nguyễn Hữu S1 năm 2004, ở xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyênlà công nhân làm việc tại công trường trong khu công nghiệp Đ thuộc địa phận xã C, huyện C, tỉnh Hải Dươngxin làm cùng. Anh S2 ý và sắp xếp cho H3 phòng trọ cạnh phòng trọ của anh S3 thôn Q, xã C 13 giờ 30 phút cùng ngày, H4 với anh S8 các công nhân khác đi làm tại công trường, trong khi làm Hnhặt được chìa khóa phòng anh S4 rơi nên nảy sinh ý định vào phòng trọ của anh S5 cắp tài sản. Khoảng 18 giờ cùng ngày, H5 dối bị đau bụng để nghỉ sớm rồi đi bộ về phòng trọ. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, Hó chìa khóa mở cửa vào phòng của anh Số có xe môtô Yamaha Exciter màu đen, BKS 20G1-335.79, chìa khóa xe treo trên tường. Hlục tìm trong ba lô để trên giường thấy 01 ví da màu đen bên trong có giấy tờ xe, H7 lấy xe cùng giấy tờ xe rồi điều khiển xe đến thành phố M, tỉnh Quảng NinhSáng ngày 08/10/2024, Hmang xe và giấy tờ xe đến cửa hàng mua bán xe máy cũ Thành N anh Nguyễn Văn T năm 1981, ở số B đường T, phường H, thành phố M cho anh T2 Anh T4 biết nguồn gốc xe do H8 tội mà có đã đồng ý mua với số tiền 9.000.000 đồng (có giấy mua bán xe). Số tiền bán xe, Hđã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 08/10/2024, anh S7 đơn trình báo Công an xã Cngày 09/10/2024, Bùi Lâm H9 Công an xã Cđầu thú, vụ án được điều tra làm rõ. Ngày 09/10/2024, anh Nguyễn Văn T3 nộp xe môtô BKS 20G1-335.79, giấy tờ xe và giấy tờ mua bán xe với Bùi Lâm H10

Ngày 12/10/2024, Cơ quan điều tra quản lý 02 file video thu tại mắt camera an ninh nhà anh Nguyễn Đ H1 sinh năm 1988, ở thôn Q, xã C hình ảnh Bùi Lâm H11 cắp xe môtô BKS 20G1-335.79.

Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐG-TTHS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C: Xe môtô Yamaha Exciter màu đen BKS 20G1-335.79 có giá trị 12.500.000 đồng.

Ngày 11/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe môtô BKS 20G1-335.79 và giấy tờ xe cho anh Nguyễn Hữu S

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hữu S8 anh Nguyễn Văn T4 yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luật định giá nêu trên.

Tại Cáo trạng số 111/CT-VKS ngày 20/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Lâm H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu tại cáo trạng là hoàn toàn đúng. Bị hại có đơn xác định đã nhận lại tài sản là chiếc xe môtô BKS 20G1-335.79 và giấy đăng ký xe cho anh Nguyễn Hữu S, anh S đề nghị được vắng mặt tại các phiên tòa ở các cấp; đồng thời, xác định trị giá tài sản bị cáo trộm cắp không lớn và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo cơ hội cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Lâm H phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Bùi Lâm H từ 09 (C (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ từ ngày 09/10/2024; Về hình phạt bổ sung; Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Đều không phải giải quyết; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, video, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 07/10/2024, tại thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Hải DươngBùi Lâm Hđã sử dụng chìa khóa mở cửa vào phòng trọ của anh Nguyễn Hữu S9 chiếm đoạt của anh $10 môtô Yamaha Exciter màu đen, BKS 20G1-335.79, trị giá 12.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã lợi dụng việc nhặt được chìa khóa phòng trọ của anh S4 rơi. Mặc dù, đang trong giờ làm việc nhưng bị cáo đã nói dối bị đau bụng để nghỉ sớm rồi đi bộ về phòng trọ nhằm trộm cắp tài sản của anh S11 thể hiện sự coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang cho mọi người dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô của bị hại là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn có tiền tiêu sài nên đã cố ý thực hiện. Xét về hành vi và số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi hành vi vi phạm bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; đồng thời quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội. Mặt khác, bị hại có đơn xác nhận đã nhận lại đầy đủ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện C đã và đang có nhiều Công ty, Doanh nghiệp lớn nằm trong các khu công nghiệp, bị cáo là một trong những công nhân làm việc tại Công ty Đ1 thuê phòng trọ để ở nhưng không biết bảo vệ tài sản cho nhau mà lại lợi dụng việc nhặt được chìa khóa phòng trọ của bạn, sau đó lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Điều đó, thể hiện sự coi thường pháp luật, đồng thời gây sự hoang mang trong nhân dân, mất trật tự trị an, giảm uy tín của các hộ gia đình có các phòng trọ cho công nhân thuê nên HĐXX cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng hành vi bị cáo đã thực hiện mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Mặc khác, nhằm mục đích cho lực lượng công nhân đang thuê phòng trọ trên địa bàn huyện C yên tâm, tin tưởng vào sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, hiện không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hữu S12 nhận đã nhận lại tài sản là chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS 20G1-335.79, không bị hư hỏng gì, không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về vật chúng: Chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS 20G1-335.79 và giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Hữu S, ngày 11/10/2024, Cơ quan điều tra - Công an huyện C trả lại cho chủ sử hữu là anh Nguyễn Hữu S13 HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Những vấn đề khác:

  • - Anh Nguyễn Văn T5 chiếc xe môtô BKS 20G1-335.79 của bị cáo H12 không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng chẵn) anh T5 xe của bị cáo H12 quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình hoàn trả cho anh T6 T có đơn xác nhận đã nhận đầy đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản nào nên HĐXX không đặt ra giải quyết và xác định anh T là người làm chúng trong vụ án;
  • - Ông Bùi Văn C1(bố đẻ bị cáo Hcó mặt tại phiên tòa và xác nhận có được bị cáo nhờ trả số tiền 9.000.000₫ cho anh T8 đúng. Tuy nhiên, số tiền trên là tiền của H13 làm mà có gửi ông quản lý hộ và ông đã sử dụng để khắc phục hậu quả cho bị cáo, ông không yêu cầu xem xét giải quyết gì đối với số tiền nêu trên nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Lâm H phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Bùi Lâm H14 (Chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 09/10/2024.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/12/2024); Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Công an huyện Cẩm Giàng,
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Lưu hồ sơ vụ án,
  • - Lưu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 114/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Lâm Hùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger