Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 114/2024/HSST.

Ngày 12/9/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thanh.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Kim Hoàn.
  • Bà Trần Thị Dinh.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh T - Sinh ngày 29/3/1994, tại quận H, thành phố Hà Nội. Giới tính: Nam. Nơi thường trú và nơi ở: Số nhà B, ngách B, ngõ E, phố K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn M – Sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị T1 - Sinh năm 1959. Bị cáo có vợ là Đặng Phương A – Sinh năm 1999. Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo Trần Minh T bị bắt tạm giữ từ ngày 31/3/2024, đến ngày 05/5/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện đang được tại ngoại tại số nhà B, ngách B, ngõ E, phố K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, (Có mặt).

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Tuyết T2; chị Vũ Thảo M1; chị Đinh Mai H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 29/3/2024, Trần Minh T đi từ nhà số B, ngách B, ngõ E, phố K, phường V, quận H, thành phố Hà Nội lên thành phố L, tỉnh Lào Cai để dự đám cưới bạn. Khi đi Trần Minh T có mang theo 01 chiếc loa, 01 đèn phát sáng để nghe nhạc. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Trần Minh T đến khách sạn Đ thuộc tổ D, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Tại đây Trần Minh T gặp Nguyễn Thị Tuyết T2, Vũ Thảo M1Đinh Mai H cũng vừa đến nơi. Sau khi nói chuyện, Trần Minh T lên thuê phòng 817 để nghỉ, còn Nguyễn Thị Tuyết T2, Vũ Thảo M1Đinh Mai H thuê phòng 804 để nghỉ. Khoảng 17 giờ ngày 30/3/2024, Trần Minh T cùng Nguyễn Thị Tuyết T2, Vũ Thảo M1Đinh Mai H đi dự tiệc cưới tại khách sạn Đ cùng ngồi mâm với 06 người khác không quen biết. Trong quá trình ăn tại tiệc cưới, Trần Minh T có nói chuyện cùng một người nam giới ngồi cùng mâm, thì biết người này cũng sử dụng ma túy tổng hợp và biết chỗ mua, Trần Minh T hỏi xin người nam giới số điện thoại của người bán ma túy. Sau khi xin được số điện thoại, Trần Minh T nảy sinh ý định rủ Nguyễn Thị Tuyết T2, Vũ Thảo M1Đinh Mai H sử dụng ma túy nên đã nói với các chị “Hay tối làm tý nhỉ” Nguyễn Thị Tuyết T2Đinh Mai H không nói gì, Vũ Thảo M1 nói không đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn tiệc xong Trần Minh T cùng Nguyễn Thị Tuyết T2, Vũ Thảo M1Đinh Mai H lên phòng 817 để nói chuyện. Một lúc sau Nguyễn Thị Tuyết T2, Đinh Mai H nằm ngủ trên một giường, Vũ Thảo M1 nằm ngủ trên một giường, Trần Minh T một mình đi xuống sảnh khách sạn mục đích đi mua ma túy tổng hợp về sử dụng. Trần Minh T sử dụng điện thoại gọi cho số điện thoại xin được từ người nam giới ngồi cùng trước đó hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine, 02 viên ma túy kẹo, người bán ma túy nói giá bán là 7.200.000VNĐ và hỏi Trần Minh T ở đâu để mang ma túy đến giao. Sau khi trao đổi thống nhất giá, địa điểm mua bán, khoảng 15 phút sau thì Trần Minh T nhận được điện thoại của người nam giới bán ma túy nói đang ở cửa hàng xăng dầu cạnh khách sạn Đ. Trần Minh T một mình đi bộ ra địa điểm thì nhìn thấy một chiếc xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Vinfast Trần Minh T không để ý biển kiểm soát đang đỗ ở ven đường. Trần Minh T đi lại gần chiếc xe ô tô thì thấy kính cửa bên lái hạ xuống, Trần Minh T thấy bên trong có một người nam giới đội mũ, đeo khẩu trang. Trần Minh T đưa số tiền 7.200.000VNĐ cho người nam giới ngồi trong xe, người nam giới nhận tiền và đưa lại cho Trần Minh T 01 túi nilon màu đỏ được hàn kín hai đầu, Trần Minh T biết bên trong là ma túy. Sau khi mua được ma túy Trần Minh T cầm túi ma túy quay về phòng 817, khách sạn Đ ngồi ở cạnh giường ngủ xé túi ma túy vừa mua được, bên trong có 02 túi nilon có mép miết chứa các cục ma túy Ketamine và 02 viên nén ma túy Kẹo. Trần Minh T lấy 01 viên ma túy Kẹo ra cho vào miệng nuốt, còn 01 viên ma túy Trần Minh T đặt lên mặt kệ kê giữa hai giường ngủ trong phòng. Trần Minh T lấy 02 túi nilon chứa ma túy Ketamine đổ ra đĩa sứ có sẵn ở trong phòng, Trần Minh T bê đĩa sứ lên hơ nóng rồi dùng thẻ ngân hàng T3 mang tên “TRAN MINH THANG” để nghiền, rằm nát các cục ma túy Ketamine thành chất bột khô, màu trắng. Trần Minh T lấy tờ tiền mệnh giá 2.000VNĐ của mình cuốn tròn lại thành ống hút. Sau khi xào ma túy Ketamine xong Trần Minh T dùng thẻ kẻ ma túy trên đĩa thành các đường nhỏ rồi dùng tờ tiền được cuốn tròn hít ma túy vào mũi. Sau khi sử dụng ma túy Trần Minh T dùng điện thoại Iphone 11 Pro của mình kết nối loa để phát nhạc và bật đèn chiếu. Trần Minh T gọi Vũ Thảo M1, Nguyễn Thị Tuyết T2Đinh Mai H dậy sử dụng ma túy cùng mình. Vũ Thảo M1 dậy, còn Nguyễn Thị Tuyết T2Đinh Mai H ngủ không dậy. Sau khi Vũ Thảo M1 dậy, Trần Minh T lấy viên ma túy Kẹo còn lại đưa cho Vũ Thảo M1 sử dụng, tiếp tục bê đĩa sứ chứa ma túy Ketamine đưa cho Vũ Thảo M1 sử dụng. Vũ Thảo M1 cầm đĩa sứ chứa ma túy dùng tờ tiền cuốn tròn để hít ma túy vào mũi. Trần Minh TVũ Thảo M2 ngồi nghe nhạc và nói chuyện, thi thoảng lại thay nhau lần lượt hít ma túy trên đĩa. Đến khoảng 03 giờ ngày 31/3/2024, thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L và Công an phường B bắt quả tang. Quá trình kiểm tra Trần Minh T, Vũ Thảo M1 khai nhận đã sử dụng ma túy tại phòng 817, khách sạn Đ. Tổ công tác thu giữ trên bàn kê giữa hai giường ngủ có 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, bên trên bề mặt đĩa sứ có chất bột khô màu trắng, 01 thẻ ngân hàng T3 mang tên “TRAN MINH THANG”, 01 tờ tiền Ngân hàng N mệnh giá 2.000VNĐ được cuộn tròn. Trần Minh T khai nhận số chất bột khô màu trắng ở trên đĩa là ma túy Ketamine của Trần Minh T để sử dụng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ trên mặt kệ gỗ 02 vỏ túi nilon có mép miết, 01 vỏ túi nilon màu đỏ, 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn chiếu màu đen và tạm giữ của các đối tượng 05 chiếc điện thoại Iphone các loại.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 31/3/2024 và kết luận giám định số 143/KL-GĐMT ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: chất bột khô màu trắng thu giữ của Trần Minh T gửi giám định có khối lượng 0,136 gam là loại chất ma túy Ketamine.

Cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo Trần Minh T tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Minh T không có ý kiến tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 31/3/2024, bị cáo Trần Minh T là người có hành vi mua chất ma túy Ketamine, thuê địa điểm, chuẩn bị 01 đèn chiếu, 01 loa mang theo để tổ chức sử dụng chất ma tuý. Bị cáo là người trực tiếp sử dụng ma túy và tổ chức cho Vũ Thảo M1 sử dụng ma túy tại phòng 817, khách sạn Đ (T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai) thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Trần Minh T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Trần Minh T theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn về ma tuý trên địa bàn thành phố L, tỉnh Lào Cai. Bị cáo Trần Minh T là người có nhận thức pháp luật, nhận biết rõ các chất ma túy pháp luật nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng v.v. Nhưng vì muốn sử dụng ma tuý tìm cảm giác lạ, bị cáo Trần Minh T đã không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy, đối với bị cáo Trần Minh T cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Minh T đã thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo Trần Minh T có ông nội là Trần Văn C được nhà nước tặng thưởng Huân chướng kháng chiến hạng Nhất, bản thân bị cáo Trần Minh T có nhiều thành tích trong công tác thiện nguyện được các cấp chính quyền có văn bản ghi nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo, theo quy định tại điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này còn có một số đối tượng: Đối với người nam giới đã cho Trần Minh T số điện thoại của người bán ma túy và người nam giới bán ma túy cho Trần Minh T vào ngày 30/3/2024 tại khu vực trước cửa hàng xăng dầu cạnh khách sạn Đ. Do bị cáo Trần Minh T không biết tên, tuổi và địa chỉ của những người nam giới này nên Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân lai lịch để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Thảo M1, ngày 30/3/2024, Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với cơ sở kinh doanh khách sạn Đ, thuộc tổ D, phường B, thành phố L. Việc bị cáo Trần Minh T tổ chức sử dụng chất ma túy ngày 31/3/2024 tại phòng 817, khách sạn Đ, Cơ sở kinh doanh không biết và không liên quan đến việc Trần Minh T tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Hội đồng xét xử xét thấy là đúng quy định của pháp luật, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Trần Minh T, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Minh T, theo quy định tại khoản 5, Điều 255 Bộ Luật hình sự.

[4] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Trần Minh T và các đối tượng liên quan một số đồ vật và tài sản. Trong quá trình điều tra vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai đã xác minh và đã xử lý vật chứng, trả lại một số đồ vật, tài sản cho chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh T trong vụ án.

Vật chứng còn lại được chuyển theo hồ sơ vụ án gồm: 0,088 gam chất ma túy Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn chiếu màu đen, 01 thẻ nhựa, 01 vỏ túi nilon màu đỏ, 02 vỏ túi nilon có mép miết, 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro và 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max đã thu giữ của bị cáo Trần Minh T.

Đối với số ma túy 0,088 gam chất ma túy Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định. Đây là chất ma tuý nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn chiếu màu đen, 01 thẻ nhựa, 01 vỏ túi nilon màu đỏ, 02 vỏ túi nilon có mép miết. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro bị cáo Trần Minh T đã sử dụng để liên lạc mua ma túy và sử dụng để kết nối với loa mở nhạc khi sử dụng ma túy. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max, đây là tài sản của bị cáo Trần Minh T không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ của bị cáo Trần Minh T để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền án phí.

[5] Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo Trần Minh T được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024, đến ngày 05/5/2024.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a, c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm a, c, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu của bị cáo Trần Minh T 0,088 gam chất ma túy Ketamine còn lại sau giám định được đựng trong bì thư, tái niêm phong ngày 31/3/2024 để tiêu huỷ.

Tịch thu của bị cáo Trần Minh T 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 loa nghe nhạc màu đen, 01 đèn chiếu màu đen, 01 thẻ nhựa ngân hàng T3 phát hành mang tên “TRAN MINH THANG”, 01 vỏ túi nilon màu đỏ và 02 vỏ túi nilon có mép miết (Đều đã qua sử dụng) để tiêu hủy.

Tịch thu của bị cáo Trần Minh T 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro số Imei: 353245104657162 (Đã qua sử dụng) và số tiền 2.000VNĐ (Hai nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước. (Số tiền 2.000VNĐ, hiện đang tạm giữ trong tài khoản số [...] của Công an thành phố L mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Lào Cai).

Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Trần Minh T 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro Max số Imei: 350069709261995 (Đã qua sử dụng) để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền án phí.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 của Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai).

Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, điều 7. Điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Trần Minh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai;
  • - THA dân sự;
  • - CA thành phố Lào Cai (02);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSTHA;
  • - Lưu HS – TA;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai:
  • - Sở Tư Pháp;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 114/2024/HSST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 114/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger