|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 114/2024/HS-ST Ngày 12/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Trọng T, sinh năm 1984; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Thôn P, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 9/12; Bố: Trần Trọng T1, sinh năm 1948; Mẹ: Lê Thị M, sinh năm 1956; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ: Nguyễn Thu T2, sinh năm 1986 (Đã ly hôn); Con có 01 con sinh năm 2006.
- Tiền án:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 27 ngày 12/5/2016 của TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 125 ngày 22/9/2017 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 112 ngày 11/8/2020 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; chấp hành xong án phạt tù ngày 21/8/2022.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 56 ngày 24/02/2003 của TAND thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 10 ngày 02/4/2004 của TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 135 ngày 06/9/2006 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- + Ngày 24/6/2013 bị Chủ tịch UBND thành phố B quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 12 tháng.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Bùi Mạnh C, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Số nhà B, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 10/12; Bố: Bùi Văn P, sinh năm 1963 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Gia đình có hai anh em, bị cáo là thứ nhất.
- Tiền án:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 92 ngày 16/5/2014 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 21/2/2020 của TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; chấp hành xong án phạt tù ngày 23/9/2022.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- Ngày 08/10/2003 bị Chủ tịch UBND tỉnh B ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện nay: Số nhà B, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 3/10; Bố: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1910 (đã chết); Mẹ: Cao Thị Y, sinh năm 1920 (đã chết); Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là thứ 5; Chồng: Bùi Văn P, sinh năm 1963 (đã chết); Có 02 con, lớn sinh 1984, nhỏ sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 08/4/1997 của TAND thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc”; số tiền dụng đánh bạc là 430.000 đồng; đã được xóa án tích.
- + Bản án hình sự sơ thẩm số 04 ngày 22/01/1999 của TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 50 ngày 04/8/1998 của TAND thị xã Bắc Giang buộc phải chấp hành 14 tháng tù; đã được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà D, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Quang T4, sinh năm 1984, (Vắng mặt).
- Anh Ngô Thịnh V, sinh năm 1989, (Có đơn xin xử vắng mặt).
- Bà Lê Thị M, sinh năm 1956, (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà B, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ C, đường Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang tạm giam tại vụ án khác).
Địa chỉ: Số nhà C, đường N, Tổ E, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1980, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà D, đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
I. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Bùi Mạnh C và Nguyễn Thị H
Bùi Mạnh Cường, sinh năm 1984 ở cùng với mẹ đẻ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 tại số nhà B, tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. C1 mua ma tuý đem về nhà rồi chia nhỏ bán cho người khác.Theo C1 khai vào khoảng giữa tháng 8/2023, C1 đến khu vực gầm cầu Á, phường M, thành phố B mua của một người đàn ông không quen biết một túi ma túy heroine với giá 500.000 đồng. C1 đem số ma túy này về nhà dùng dao lam, cân điện tử, giấy bạc chia thành 10 gói nhỏ rồi cất vào trong lọ nhựa màu trắng để tại kệ để đồ trong phòng khách để bán. Kết quả điều tra xác định Bùi Mạnh C1 và Nguyễn Thị H đã bán ma túy cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 29/8/2023, Trần Trọng T, sinh năm 1984, trú tại thôn P, xã S, thành phố B điều khiển xe mô tô BKS 98B1-110.51 đi đến nhà Bùi Mạnh C1 mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi gặp nhau, T hỏi mua của C1 một gói heroine. C1 lấy 01 gói ma túy heroine trong lọ nhựa để tại kệ gỗ trong phòng khách rồi cầm ra cửa đưa cho T. T nhận gói ma túy rồi đưa cho C1 một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Theo T khai mang gói ma tuý về nhà rồi tự sử dụng hết.
Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 01/9/2023, Nguyễn Quang T4, sinh năm 1984, trú tại số nhà B, đường L, phường H, thành phố B đi xe máy đến nhà Bùi Mạnh C1 mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi thì T4 gặp Nguyễn Thị H là mẹ C1 đang ngồi ở phòng khách. Thời điểm này, C1 không có ở nhà. T4 đứng ở bên ngoài gọi cửa và bảo H bán cho 02 gói ma túy heroine. Do quen biết T4 từ trước nên H đồng ý rồi đi lấy 02 gói ma túy heroine từ trong lọ nhựa màu trắng để tại kệ gỗ trong phòng khách rồi cầm ra đưa cho T4 qua khe cửa. T4 cầm 2 gói ma túy rồi đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng qua khe cửa. Khi C1 đi về nhà thì H nói đã bán 2 gói ma tuý và đưa cho C1 200.000 đồng tiền đã bán ma tuý. Theo T4 khai mang 02 gói ma túy heroine về nhà và tự sử dụng hết.
Lần thứ ba: Khoảng giữa tháng 12/2023, Bùi Mạnh C1 đi đến khu vực gầm Á, phường M, thành phố B mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy heroine với giá 1.000.000 đồng. C1 cầm túi ma túy mang về nhà chia thành 13 gói nhỏ rồi cất vào trong lọ nhựa màu trắng để tại kệ để đồ trong phòng khách mục đích để bán.
Khoảng 21 giờ ngày 22/12/2023, C1 đang ở nhà thì nhận được tin nhắn tài khoản Zalo “T” của Nguyễn Quang T4 nhắn tin đến tài khoản “Mr.Cuong” của C1 nội dung “ship anh 5k”. C1 hiểu ý T4 hỏi mua 05 gói heroine nên nhắn tin trả lời “đợi em mấy phút”. Sau đó, C1 lấy 05 gói heroine trong lọ nhựa để tại kệ gỗ trong phòng khách rồi đi ra mượn xe ô tô của người bạn tên là T5 (C1 chỉ biết T5 quê ở Hà Nội nhưng không biết địa chỉ cụ thể, không nhớ biển kiểm soát ) sau đó đi đến nhà T4 để bán ma tuý. C1 đỗ xe ô tô ngoài vỉa hè chờ. T4 đi ra đưa cho C1 500.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 2 tờ 100.000 đồng; 01 tờ 50.000 đồng, 02 tờ 20.000 đồng, 01 tờ 10.000 đồng). C1 đưa cho T4 05 gói giấy bạc bên trong có ma túy heroine rồi ra về trả xe ô tô. Theo T4 khai đã sử dụng hết số ma tuý trên.
Căn cứ lời khai Trần Trọng T và kết quả điều tra; ngày 23/12/2023 Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Mạnh C1 tại số nhà B, tổ C, phường M, thành phố B đã thu giữ:
- - 01 lọ nhựa hình trụ màu trắng có nắp đậy bên trong đựng 08 gói giấy bạc (trong đó 01 gói có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc; 01 gói có một mặt màu xanh, một mặt màu trắng; 06 gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy. Tất cả được phát hiện thu giữ tại kệ gỗ đặt tại phòng khách, được cho vào một phong bì thư dán kín, niêm phong ký hiệu “KX01”.
- - 01 dao lam bề mặt bám dính chất bột màu trắng- nghi là ma túy được cho vào 01 phong bì thư dán kín, niêm phong ký hiệu “KX02".
- - 01 cân điện tử màu đỏ, 01 chiếc kéo, 01 hộp kim loại bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc. Tất cả được phát hiện thu giữ trong hộp gỗ trong phòng ngủ đầu tiên nơi ở của Bùi Mạnh C1.
- - Số tiền 7.595.000 đồng thu giữ trong ngăn tủ trong phòng ngủ thứ 2 nơi ở của Bùi Mạnh C1.
- - Số tiền 860.000 đồng thu giữ tại mặt tủ trong phòng ngủ đầu tiên nơi ở của Bùi Mạnh C1.
- - 01 điện thoại Oppo màu xanh đen gắn sim số 0567.956.068
- - 01 Ipad Air vỏ mầu xám của Nguyễn Thị H.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax gắn sim 0972.160.234 của Bùi Mạnh C1 (bút lục 88-89).
Ngày 23/12/2023, Bùi Mạnh C1 và Nguyễn Thị H xin đầu thú và khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ tại nơi ở của Bùi Mạnh C1 khi khám xét.
Kết luận giám định số 2650/KL – KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX01” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 08 (tám) gói giấy bạc (trong đó có 01 (một) gói có một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng; 01 (một) gói có một mặt màu xanh, một mặt màu trắng và 06 (sáu) gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) được đựng trong 01 (một) lọ nhựa hình trụ màu trắng có nắp đậy là ma túy, có tổng khối lượng 0,350 gam, loại Heroine.
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX02” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Không tìm thấy chất ma túy trên 01 (một) con dao lam, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng (bút lục 48-49).
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax gắn sim 0972.160.234 của Bùi Mạnh C1 thấy còn lưu trữ tin nhắn nội dung mua bán ma tuý giữa C1 với Nguyễn Quang T4 (bút lục 137). Kiểm tra chiếc Ipad Air và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Nguyễn Thị H không phát hiện có vi phạm pháp luật.
Ngày 23/12/2023, Cơ quan điều tra cho Bùi Mạnh C1 và Nguyễn Thị H thực nghiệm về hành vi bán trái phép ma tuý tại nơi ở. Kết quả C1 thực hiện thuần thục các động tác chia nhỏ, đóng gói ma tuý vào các mảnh giấy bạc; bán ma tuý cho Trần Trọng T vào ngày 29/8/2023 và đi ô tô đến bán ma tuý cho Nguyễn Quang T4 vào ngày 22/12/2023; Nguyễn Thị H thực hiện thuần thục động tác lấy 2 gói ma tuý trong chiếc lọ nhựa rồi bán cho Nguyễn Quang T4 vào ngày 01/9/2023 như các bị can đã khai (bút lục 93-94).
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Quang T4 nhận dạng ảnh Nguyễn Thị H và cho H nhận dạng ảnh T4. Kết quả T4 nhận đúng ảnh và xác định H đã bán ma tuý cho T4 vào đầu tháng 9/2023; H nhận đúng ảnh và xác định đã bán ma tuý cho T4 vào đầu tháng 9/2023 (bút lục 113-114; 121-122).
Cơ quan điều tra đã cho Bùi Mạnh C1 nhận dạng ảnh Nguyễn Quang T4 và Trần Trọng T. Kết quả, C1 nhận đúng ảnh và xác định C1 đã bán ma tuý cho T4 và T (bút lục 115-117)
Đối với Nguyễn Quang T4, Trần Trọng T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; kết quả xét nghiệm đều dương tính với ma tuý MOR nên Công an thành phố B quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Bùi Mạnh C1 ở khu vực gầm cầu Á. Theo C1 khai không biết tên và địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.
Đối với người thanh niên tên T5 ở Hà Nội cho C1 mượn xe ô tô nhưng không biết C1 sử dụng làm phương tiện đi bán ma tuý. C1 không biết địa chỉ cụ thể của T5 nên Cơ quan điều tra không xác định được.
II. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Trần Trọng T
Trần Trọng T, sinh năm 1984 thuê trọ tại nhà bà Nguyễn Thị Ngô D, sinh năm 1974 ở thôn P, xã S, thành phố B. T mua ma tuý đem về chia nhỏ mục đích vừa để sử dụng vừa bán cho người khác.
Theo Trần Trọng T khai: Khoảng 12 giờ ngày 22/12/2023, T sử dụng điện thoại di động gọi qua Zalo cho Ngô Thịnh V, sinh năm 1989, trú tại số nhà A, ngõ C, đường Đ, phường L, thành phố B hỏi mua một “chỉ” ma túy heroine, V đồng ý bán với giá 3.500.000 đồng và hẹn giao ma tuý tại khu vực bờ đê dưới chân cầu Á Khoảng 14 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô BKS 98B2-806.45 đi từ phòng trọ đến điểm hẹn rồi gọi cho V qua Z thông báo đã đi đến. Một lúc sau, V đi xe máy đến. T đưa cho V 3.500.000 đồng thì được V đưa cho một túi ma túy heroine. T cầm túi ma túy rồi điều khiển xe đi về phòng trọ sau đó dùng giấy bạc, dao lam, cân điện tử chia thành 10 gói nhỏ và cất giấu tại tấm gỗ trên nền phòng ngủ tầng 1 mục đích vừa để sử dụng và vừa bán cho người khác.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, T cầm 01 gói ma túy trên tay trái đi bộ ra khỏi phòng trọ với mục đích nếu có người hỏi mua thì sẽ bán. Khi T đi bộ ra khu vực phía trước cửa nhà thì bị tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang và thu giữ:
- - 01 gói giấy bạc một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy do Trần Trọng T đang cầm trong lòng bàn tay trái tự giác giao nộp, được cho vào một phong bì dán kín, niêm phong ký hiệu “QT1”.
- - 01 điện thoại N màu đen, gắn sim số 0702.223.637
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, gắn sim số 0976.109.631 (bút lục 81-82).
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Trọng T tại thôn P, xã S, thành phố B thu giữ:
- - Chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy do Trần Trọng T lấy từ trên mặt tấm gỗ trên nền phòng ngủ tầng 1 tự giác giao nộp được cho vào 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ;
- - 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy do Trần Trọng T lấy từ trên mặt một quyển vở đặt trên mặt tấm gỗ trong nền phòng ngủ tầng 1 tự giác giao nộp;
- - 09 gói giấy bạc (trong đó 03 gói có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc, 06 gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng- nghi là ma túy do Trần Trọng T lấy từ trên mặt tấm gỗ trên nền phòng ngủ tầng 1 tự giác giao nộp. (Toàn bộ số tang vật trên được cho vào một phong bì thư dán kín, niêm phong tại chỗ ký hiệu KX01).
- - 01 cân điện tử màu trắng, 01 dao lam, 01 nhíp kim loại màu đen, nhiều mảnh giấy bạc.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 98B1-110.51
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS 98B2- 806.45
- - Số tiền 1.140.000 đồng (bút lục 85-86).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Trọng T.
Kết luận giám định số 2649/KL – KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT1” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,159 gam, loại Heroine.
Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX01” đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 1,863 gam, loại Heroine.
Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,157 gam, loại Heroine.
Chất cục bột màu trắng đựng trong 09 (chín) gói giấy bạc (trong đó có: 03 (ba) gói có một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng và 06 (sáu) gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,643 gam, loại Heroine (bút lục 45-46).
Cơ quan điều tra kiểm tra chiếc điện thoại N màu đen và điện thoại di động S1 A13 của T không phát hiện nội dung liên quan mua bán ma tuý. Theo T khai sử dụng điện thoại di động S1 A13 liên lạc qua Zalo với Ngô Thịnh V mua ma tuý nhưng sau đó đã xoá hết dữ liệu.
Quá trình điều tra, T khai mua số ma tuý trên của Ngô Thịnh V nhưng V khai không bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra đã cho T và V đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T thì không có chứng cứ khác nên không đủ cơ sở xác định V bán ma tuý cho T vào ngày 22/12/2023 như T khai. Hiện nay, Ngô Thịnh V đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khởi tố, tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án khác.
Đối với chị Nguyễn Thị Ngô D cho Trần Trọng T thuê trọ nhưng không biết T mua bán trái phép ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Kết quả điều tra xác định nguồn gốc những tài sản đã thu giữ như sau:
- - Chiếc xe mô tô BKS 98B1-110.51 thuộc sở hữu của Trần Trọng T. Ngày 29/8/2023, T sử dụng chiếc xe này đi đến nhà C1 mua ma túy.
- - Chiếc xe mô tô BKS 98B2- 806.45 thuộc sở hữu của bà Lê Thị M là mẹ Trần Trọng T. Khoảng giữa tháng 12/2023, T mượn bà M chiếc xe này để đi lại. Bà M không biết T sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy.
- - Số tiền 1.140.000 đồng tạm giữ của Trần Trọng T là do T làm nghề tự do lao động mà có.
- - Số tiền 7.595.000 đồng là của Bùi Mạnh C1; số tiền 860.000 đồng là của Nguyễn Thị H không liên quan mua bán ma tuý.
- - Chiếc Ipad Air vỏ mầu xám và điện thoại Oppo là của Nguyễn Thị H không liên quan đến mua bán ma tuý.
- - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax gắn sim 0972.160.234 của Bùi Mạnh C1 sử dụng liên lạc khi mua bán ma tuý.
- - Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 của Trần Trọng T sử dụng liên lạc mua ma tuý.
Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và những vật chứng khác của vụ án được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
III. Hành vi cố ý gây thương tích của Trần Trọng T
Trần Trọng T có quen biết anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2000, trú tại số nhà D, đường H, phường Đ, thành phố B. Anh T3 làm nhân viên tại nhà nghỉ B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Khoảng tháng 8/2023, anh T3 có vay của T số tiền 5.000.000 đồng. T nhiều lần đòi tiền nhưng anh T3 chưa trả được.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 09/10/2023, T cầm 01 thanh kim loại dài khoảng 60 - 70 cm (lấy từ cán chổi quét nước lau nhà) rồi đi xe máy đến nhà anh T3 mục đích đòi tiền nợ. T giấu thanh kim loại ở phía sau lưng trong áo phông đang mặc. Khi đến nơi, T bảo anh T3 trả nợ 5.000.000 đồng. Anh T3 nói chưa có tiền trả và xin khất khi nào đi làm có tiền sẽ trả. Ngay lúc đó, T dùng tay phải rút thanh kim loại ra vụt đánh vào người anh T3. Thấy vậy, anh T3 bỏ chạy vào trong nhà thì bị T cầm thanh kim loại vụt trúng vào lưng. Lúc này, bà Ngô Thị H1, sinh năm 1980 là mẹ đẻ của anh T3 đi ra nói chuyện can ngăn thì T đi xe máy về nhà. Cùng ngày, anh T3 có đơn yêu cầu khởi tố đề nghị xử lý hành vi cố ý gây thương tích của Trần Trọng T theo pháp luật.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1804 ngày 13/10/2023 của Trung tâm Pháp y – Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
- Các kết quả chính: Thương tích vết chợt sước da đóng vẩy khô vùng sau sườn trái: 01%.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T3 tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).
- Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước (bút lục 239-240).
Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định đoạn video trích xuất từ camera tại hiện trường. Kết luận giám định số 2420/KL-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “8637252458905269998.mp4", dung lượng: 9,92 MB; thời lượng 02 phút 09 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell màu cam gửi giám định.
- Trích xuất được 10 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định (bút lục 242).
Cơ quan điều tra cho Trần Trọng T xem đoạn video đã thu giữ. Kết quả T xác nhận có hình ảnh T có hành vi cầm thanh kim loại đánh anh T3 gây thương tích (bút lục 268).
Đối với thanh kim loại mà T sử dụng để đánh anh T3 gây thương tích. Theo T khai trên đường về đã vứt thanh kim loại này xuống rìa đường nhưng không nhớ địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T3 không yêu cầu bị can T phải bồi thường (bút lục 287).
Tại Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Trần Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Bùi Mạnh C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự;
Bị cáo Trần Trọng T trình bày tại phiên tòa: Do thời gian đã lâu nên bị cáo không nhớ rõ. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng thể hiện. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Trong quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ: 01 (một) cân điện tử màu trắng, 01 (một) dao lam, 01 (một) nhíp kim loại màu đen, nhiều mảnh giấy bạc; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 98B1-110.51 đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 98B2- 806.45 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13; 01 (một) điện thoại Nokia màu đen và số tiền 1.140.000 đồng. Chiếc xe BKS 98B1- 110.51 là xe của bị cáo, bị cáo có sử dụng làm phương tiện mua bán trái phép chất ma túy. Đối với chiếc xe BKS 98B2-806.45 là xe của mẹ bị cáo, mẹ bị cáo không biết bị cáo dùng chiếc xe trên để đi mua bán trái phép chất ma túy. Đối với 02 chiếc điện thoại di động thì bị cáo có sử dụng chiếc điện thoại Samsung A13 để liên lạc mua bán ma túy, còn điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 1.140.000 đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo đề nghị xử lý các vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Bùi Mạnh C1 trình bày tại phiên tòa: Do thời gian đã lâu nên bị cáo không nhớ rõ. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng thể hiện. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Trong quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ: 01 (một) cân điện tử màu đỏ, 01 (một) chiếc kéo, 01 (một) hộp kim loại bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax; Số tiền mặt 7.595.000 đồng. Bị cáo có sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax để liên lạc trong quá trình mua bán ma túy, còn số tiền 7.595.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo đề nghị xử lý các vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo có bác là Nguyễn Đức T6 và Bùi Văn L là liệt sĩ.
Bị cáo Nguyễn Thị H trình bày tại phiên tòa: Hành vi của bị cáo đã thực hiện đúng như bản cáo trạng thể hiện. Bị cáo thừa nhận toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo có biết C1 bán ma túy. Bị cáo chỉ bán cho C1 ma túy vào ngày 01/9/2023. Khi C1 về thì bị cáo có nói cho C1 biết về việc bán ma túy. Bị cáo đã đưa số tiền bán được ma túy cho C1. Trong quá trình điều tra bị cáo bị thu giữ: Số tiền mặt 860.000 đồng; 01 (một) điện thoại Oppo màu xanh đen và 01 (một) Ipad Air vỏ mầu xám. Các tài sản trên đều là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Bị cáo đề nghị xin lại các tài sản trên. Bị cáo có anh ruột là Nguyễn Đức T6 là liệt sĩ và anh chồng là Bùi Văn L là liệt sĩ.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đối với bị cáo Trần Trọng T:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trọng T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Trọng T từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T7) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của 2 tội buộc bị cáo Trần Trọng T phải chấp hành hình phạt chung từ 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng đến 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 22/12/2023.
- Áp dụng hình phạt bổ sung: 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Bùi Mạnh C1:
- Áp dụng điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh C1 từ 08 (T7) năm đến 08 (T7) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/12/2023.
- Áp dụng hình phạt bổ sung: 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị H:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/12/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định của PC09, Công an tỉnh B; 01 (một) cân điện tử màu trắng, 01 (một) dao lam, 01 (một) nhíp kim loại màu đen, nhiều mảnh giấy bạc tạm giữ của Trần Trọng T; 01 (một) cân điện tử màu đỏ, 01 (một) chiếc kéo, 01 (một) hộp kim loại bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc tạm giữ của Bùi Mạnh C1.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 98B1-110.51 đã qua sử dụng tạm giữ của Trần Trọng T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI: “352847112158884", gắn sim “0972160234”, đã qua sử dụng tạm giữ của Bùi Mạnh C1 được cho vào 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐT C1” dán kín; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, gắn sim “0976109631”, số IMEI: “352469858359012” đã qua sử dụng được cho vào 01 (một) phong bì ký hiệu "ĐT T" dán kín
- - Trả lại bị cáo T: 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, gắn sim “0702223637” đã qua sử dụng được cho vào 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐT T” dán kín; số tiền 1.140.000 đồng (Một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại bị cáo C1: Số tiền mặt 7.595.000 đồng (bẩy triệu năm trăm chín mươi năm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại bị cáo H: Số tiền mặt 860.000 đồng (tám trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại Oppo màu xanh đen, có số IMEI 1: “862069054449899”, IMEI 2: “862069054449881”, gắn sim “0567956068”, đã qua sử dụng và 01 (một) Ipad Air vỏ mầu xám, có số Seri: DMPMHNE1FK10 đã qua sử dụng, được cho vào 01 (một) phong bì ký hiệu “ĐT H” dán kín.
- - Trả lại bà Lê Thị M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 98B2- 806.45 đã qua sử dụng.
- - Truy thu bị cáo C1 tổng số tiền 800.000 đồng (tiền bán ma túy cho T 100.000 đồng, tiền bán ma túy cho T4 700.000 đồng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Bị cáo Trần Trọng T, bị cáo Bùi Mạnh C1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị H.
- Về quyền kháng cáo:
- - Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 114/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và mua bán trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 114/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Mua bán trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trọng T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
